Kỳ vọng phát triển kinh tế từ cà phê giảm phát thải
Trong bối cảnh thị trường xuất khẩu ngày càng quan tâm đến tính bền vững của sản phẩm, chuyển đổi phương thức canh tác đang trở thành yêu cầu quan trọng đối với ngành cà phê Việt Nam. Không chỉ đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng, sản xuất cà phê còn phải hướng tới sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm tác động môi trường và chứng minh được quá trình sản xuất có trách nhiệm.
Ông Đỗ Văn Chung, Phó Trưởng phòng Hệ thống Nông nghiệp, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI), cho biết giai đoạn 2023-2026, Viện đã triển khai hơn 75 mô hình cà phê giảm phát thải tại Đắk Lắk, Lâm Đồng và Gia Lai.
Các giải pháp tập trung vào 3 nhóm đầu vào quan trọng là dinh dưỡng, nước tưới và quản lý sâu bệnh. Tùy điều kiện từng vườn, quy trình được kết hợp giữa bón phân cân đối, tăng sử dụng phân hữu cơ, tưới nước đúng thời điểm, quản lý dịch hại tổng hợp, trồng xen cây ăn quả và duy trì thảm thực vật che phủ đất.
Theo ông Đỗ Văn Chung, các mô hình ghi nhận mức giảm phát thải từ 18% đến 44% so với tập quán canh tác truyền thống, tùy điều kiện và giải pháp áp dụng.
Những kết quả bước đầu tạo cơ sở để mở rộng sản xuất cà phê theo hướng bền vững. Tuy nhiên, để xác định hiệu quả trên diện rộng, cần tiếp tục theo dõi qua nhiều vụ, chuẩn hóa phương pháp tính toán và đánh giá khả năng áp dụng trong những điều kiện canh tác khác nhau.
Từ góc độ thương mại, giảm phát thải chỉ thực sự trở thành lợi thế khi doanh nghiệp có thể chứng minh nguồn gốc và các thực hành sản xuất của sản phẩm.
Đối với thị trường Liên minh châu Âu (EU), Quy định chống phá rừng (EUDR) đặt ra yêu cầu về tính hợp pháp, khả năng truy xuất nguồn gốc và việc chứng minh hàng hóa không liên quan đến phá rừng theo các tiêu chí của quy định. Vì vậy, ngành cà phê cần quan tâm đồng thời đến dữ liệu vùng trồng, thông tin địa lý và hồ sơ chuỗi cung ứng.
Bà Hoàng Thị Thu Hương, cán bộ dự án cấp cao của Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ), cho biết cà phê là một trong những ngành hàng có tiềm năng giảm phát thải trong Đề án sản xuất giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050 của Bộ NN&MT. Theo bà Hương, việc chuyển đổi sang các thực hành nông nghiệp tái sinh vừa giúp cải thiện hệ sinh thái sản xuất, vừa tạo điều kiện để ngành cà phê chuẩn bị tốt hơn trước những yêu cầu ngày càng cao của chuỗi cung ứng quốc tế.
Tuy nhiên, truy xuất nguồn gốc và đo lường phát thải là hai nhiệm vụ có liên quan nhưng không đồng nhất. Dữ liệu vùng trồng giúp xác định sản phẩm đến từ đâu, trong khi dữ liệu phát thải phải phản ánh được các hoạt động sản xuất, lượng đầu vào sử dụng và phương pháp tính toán phù hợp. Muốn đưa ra tuyên bố về mức giảm phát thải, doanh nghiệp cần có hệ thống dữ liệu đủ tin cậy và có khả năng kiểm chứng.
Đây cũng là cơ sở để xây dựng những vùng nguyên liệu đáp ứng đồng thời yêu cầu về chất lượng, tính bền vững và tính minh bạch. Thay vì để từng hộ sản xuất tự ghi chép, thu thập thông tin theo những cách khác nhau, cần hướng tới hệ thống dữ liệu thống nhất, dễ cập nhật và có thể kết nối giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp thu mua và cơ quan quản lý.
Ông Nguyễn Văn Thiết, Quản lý Văn phòng Tổ chức Rainforest Alliance tại Việt Nam, nhấn mạnh cần thay đổi cách nhìn về đất trong sản xuất nông nghiệp. Theo ông, đất không chỉ là tư liệu sản xuất để khai thác mà còn là nền tảng sinh thái cần được đầu tư, phục hồi và bảo vệ lâu dài.
Cách tiếp cận này đặt sức khỏe đất, khả năng giữ nước, đa dạng sinh học và hiệu quả sử dụng tài nguyên vào trung tâm của quá trình chuyển đổi. Đây cũng là những yếu tố cần được theo dõi song song với năng suất và chi phí nếu muốn đánh giá đầy đủ tính bền vững của vùng cà phê.
Liên kết doanh nghiệp - nông dân, mở rộng vùng nguyên liệu xanh
Một trong những thách thức lớn nhất khi nhân rộng mô hình là chuyển các yêu cầu kỹ thuật thành quy trình đơn giản, dễ thực hiện và phù hợp với điều kiện của nông hộ.
Ông Phạm Phú Ngọc, Trưởng Chi nhánh Công ty Nestlé Việt Nam tại Tây Nguyên kiêm Giám đốc Chương trình Phát triển Nông nghiệp, cho biết chương trình NESCAFÉ Plan tập trung hướng dẫn nông dân thực hành nông nghiệp tái sinh theo 3 trụ cột: đất, nước và đa dạng sinh học.
Trong quản lý đất, nông dân được hướng dẫn duy trì thảm thực vật che phủ, tận dụng vỏ cà phê để sản xuất phân hữu cơ và cân đối dinh dưỡng. Về quản lý nước, việc theo dõi độ ẩm đất giúp điều chỉnh lượng nước tưới phù hợp hơn. Trong khi đó, mô hình trồng xen cây ăn quả, cây che bóng và phát triển nông lâm kết hợp góp phần đa dạng hóa hệ sinh thái, đồng thời tạo thêm nguồn thu cho hộ sản xuất. Ông Ngọc cho rằng việc áp dụng đồng bộ các giải pháp này có thể giúp thu nhập của hộ nông dân tăng từ 30% đến 150% so với độc canh cà phê. Mức tăng cụ thể phụ thuộc vào điều kiện vườn cây, cơ cấu cây trồng và hiệu quả tổ chức sản xuất của từng hộ.
Thực tiễn cho thấy chuyển đổi xanh không thể chỉ dựa vào việc phổ biến quy trình kỹ thuật. Nông dân còn cần được hỗ trợ về kiến thức, nguồn lực, đầu ra và khả năng tiếp cận thị trường. Nếu chi phí chuyển đổi tăng nhưng không có cơ chế chia sẻ lợi ích, việc duy trì các thực hành bền vững sẽ gặp khó khăn.
Theo TS. Phan Việt Hạ, Quyền Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI), liên kết giữa viện nghiên cứu, doanh nghiệp, địa phương và nông dân giúp kết nối yêu cầu của thị trường với thực hành sản xuất tại vùng nguyên liệu. Trong đó, doanh nghiệp góp phần định hướng thị trường và huy động nguồn lực; cơ quan nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học, hoàn thiện và chuẩn hóa quy trình kỹ thuật.
Hiện nay, WASI định hướng tiếp tục chuẩn hóa phương pháp đo lường, xây dựng đường cơ sở phát thải, đánh giá khả năng hấp thụ carbon và lượng nước, phân bón tiết kiệm tại các mô hình. Đây là cơ sở để đánh giá kết quả chuyển đổi trên những tiêu chí có thể so sánh, thay vì chỉ dựa vào các cam kết chung về sản xuất xanh.
Về phía quản lý nhà nước, việc triển khai Đề án sản xuất giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt cần gắn với chuyển giao khoa học công nghệ, phát triển hệ thống đo lường, báo cáo và thẩm định phát thải, đồng thời thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị. Các tiêu chuẩn và phương pháp đánh giá cần phù hợp với điều kiện sản xuất trong nước, đồng thời có khả năng đối chiếu với yêu cầu của thị trường nhập khẩu.
Cùng với đó, doanh nghiệp cần tăng cường liên kết tiêu thụ, hỗ trợ nông dân ghi chép dữ liệu và thực hiện quy trình sản xuất bền vững. Các cơ chế khuyến khích phải hướng tới chia sẻ chi phí chuyển đổi, ổn định đầu ra và tạo động lực để người trồng cà phê duy trì thực hành tốt qua nhiều vụ.
Cơ hội từ thị trường cà phê bền vững sẽ khó chuyển thành lợi ích thực tế nếu người sản xuất chỉ phải đáp ứng thêm yêu cầu mà không được hưởng lợi tương xứng. Việc sản phẩm có thể bán với giá cao hơn, tiếp cận phân khúc thị trường mới hay tạo thêm nguồn thu từ tín chỉ carbon đều cần được chứng minh bằng cơ chế giao dịch, tiêu chuẩn và điều kiện cụ thể.
Đưa cà phê giảm phát thải từ mô hình ra thị trường vì thế không chỉ là câu chuyện thay đổi kỹ thuật canh tác. Đó là quá trình tổ chức lại vùng nguyên liệu, chuẩn hóa dữ liệu, tăng cường liên kết và phân chia lợi ích trong chuỗi giá trị. Khi khoa học công nghệ được gắn với nhu cầu thị trường và lợi ích của người nông dân, chuyển đổi xanh mới có thể trở thành nền tảng nâng cao sức cạnh tranh, giá trị và tính bền vững của cà phê Việt Nam.
Đỗ Hương