Quy định chi tiết Nghị quyết số 43/2026/QH16 về giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cá nhân và doanh nghiệp
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng vừa ký Nghị định số 398/2026/NĐ-CP quy định chi tiết Nghị quyết số 43/2026/QH16 về giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cá nhân và doanh nghiệp.
Nghị định này quy định chi tiết về giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cá nhân và doanh nghiệp theo quy định tại Nghị quyết số 43/2026/QH16.
Giảm 30% số thuế thu nhập cá nhân phải nộp của kỳ tính thuế năm 2026 và năm 2027 đối với thu nhập từ kinh doanh của cá nhân cư trú có mức doanh thu hằng năm của năm 2026, năm 2027 không quá 10 tỷ đồng
Tại Điều 2 Nghị định quy định về việc giảm 30% số thuế thu nhập cá nhân phải nộp của kỳ tính thuế năm 2026 và năm 2027 đối với thu nhập từ kinh doanh của cá nhân cư trú có mức doanh thu hằng năm của năm 2026, năm 2027 không quá 10 tỷ đồng như sau:
1- Việc giảm thuế quy định tại Điều này áp dụng đối với cá nhân cư trú có hoạt động sản xuất, kinh doanh, bao gồm cả cá nhân đăng ký thành lập hộ kinh doanh hoặc người được các thành viên hộ gia đình ủy quyền làm người đại diện hộ kinh doanh (cá nhân kinh doanh).
2- Số thuế thu nhập cá nhân được giảm của kỳ tính thuế năm 2026, năm 2027 được tính trên số thuế thu nhập cá nhân phải nộp phát sinh từ toàn bộ thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của cá nhân kinh doanh, không phân biệt phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân.
3- Doanh thu năm làm căn cứ xác định cá nhân kinh doanh thuộc đối tượng được giảm thuế thu nhập cá nhân thực hiện theo quy định tại Điều 4, Điều 5 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP quy định về chính sách thuế và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 141/2026/NĐ-CP).
4- Kê khai giảm thuế
a) Cá nhân kinh doanh dự kiến doanh thu trong kỳ tính thuế năm 2026, năm 2027 nếu không quá 10 tỷ đồng thì kê khai giảm thuế thu nhập cá nhân theo Mẫu số 01 tại Phụ lục kèm theo Nghị định này và nộp cùng hồ sơ khai thuế quý, 06 tháng đầu năm, 06 tháng cuối năm, năm.
b) Tổ chức, cá nhân thực hiện khấu trừ, khai thay, nộp thay thuế thu nhập cá nhân cho cá nhân kinh doanh, căn cứ doanh thu nếu không quá 10 tỷ đồng thuộc phạm vi khấu trừ, khai thay, nộp thay và quy định tại Điều này, tổ chức, cá nhân thực hiện giảm 30% số thuế thu nhập cá nhân phải khấu trừ, khai thay, nộp thay theo tháng, quý hoặc theo lần phát sinh, kê khai theo Mẫu số 02 tại Phụ lục kèm theo Nghị định này và nộp cùng Tờ khai thuế thu nhập cá nhân của tổ chức, cá nhân thực hiện khấu trừ, khai thay, nộp thay thuế thu nhập cá nhân cho cá nhân kinh doanh.
c) Căn cứ tổng doanh thu thực tế của toàn bộ hoạt động kinh doanh, cá nhân kinh doanh xác định số thuế thu nhập cá nhân phải nộp và số thuế thu nhập cá nhân được giảm theo quy định tại Điều này. Trường hợp tổng doanh thu thực tế trong năm vượt quá 10 tỷ đồng thì không được áp dụng mức giảm thuế quy định tại Điều này và phải nộp bổ sung số thuế thu nhập cá nhân đã được giảm, kê khai điều chỉnh theo Mẫu số 03 tại Phụ lục kèm theo Nghị định này và nộp cùng hồ sơ khai thuế của kỳ phát sinh doanh thu lũy kế tính từ đầu năm trên 10 tỷ đồng. Số thuế thu nhập cá nhân phải nộp bổ sung do xác định lại điều kiện giảm thuế theo quy định này không tính tiền chậm nộp đến thời hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định của kỳ phát sinh doanh thu lũy kế trên 10 tỷ đồng.
d) Trường hợp đã kê khai thuế thu nhập cá nhân nhưng chưa kê khai số thuế được giảm theo quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều này thì được khai điều chỉnh, bổ sung hồ sơ khai thuế đã khai hoặc xác định giảm thuế khi quyết toán thuế năm theo quy định của pháp luật về quản lý thuế. Trường hợp cá nhân kinh doanh nộp thuế theo thuế suất trên doanh thu nếu nộp thừa thì cuối năm được bù trừ, hoàn trả, hoàn trả kiêm bù trừ thu ngân sách theo quy định của pháp luật về quản lý thuế đối với số thuế nộp thừa.
đ) Trường hợp cá nhân khai bổ sung hồ sơ khai thuế thu nhập cá nhân của kỳ tính thuế năm 2026, năm 2027 hoặc theo quyết định, kết luận, thông báo kết quả thanh tra, kiểm tra, kiểm toán của cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền làm tăng số thuế thu nhập cá nhân phải nộp thì số thuế tăng thêm được giảm 30% theo quy định của Nghị định này nếu cá nhân vẫn đáp ứng điều kiện được giảm thuế quy định tại Điều này.
e) Trường hợp cá nhân khai bổ sung hồ sơ khai thuế thu nhập cá nhân của kỳ tính thuế năm 2026, năm 2027 hoặc theo quyết định, kết luận, thông báo kết quả thanh tra, kiểm tra, kiểm toán của cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền làm giảm số thuế thu nhập cá nhân phải nộp thì điều chỉnh giảm số thuế thu nhập cá nhân được giảm theo quy định của Nghị định này và xử lý số tiền thuế nộp thừa (nếu có) theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của kỳ tính thuế năm 2026 và năm 2027 đối với thu nhập của doanh nghiệp, tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam có mức doanh thu hằng năm của năm 2026, năm 2027 không quá 10 tỷ đồng
Điều 3 Nghị định này quy định về việc giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của kỳ tính thuế năm 2026 và năm 2027 đối với thu nhập của doanh nghiệp, tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam có mức doanh thu hằng năm của năm 2026, năm 2027 không quá 10 tỷ đồng như sau:
1- Việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp quy định tại Điều này áp dụng đối với người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là doanh nghiệp, tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 43/2026/QH16 (doanh nghiệp), bao gồm:
a) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam.
b) Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được thành lập theo Luật Hợp tác xã.
c) Đơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam.
d) Tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam có hoạt động sản xuất kinh doanh có thu nhập.
Việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp quy định tại Điều này không áp dụng đối với các doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp hình thành từ việc chia, tách doanh nghiệp sau ngày Nghị quyết số 43/2026/QH16 có hiệu lực, mà tổng doanh thu hằng năm của năm 2026, năm 2027 của các doanh nghiệp sau chia, tách trên 10 tỷ đồng.
2- Số thuế thu nhập doanh nghiệp được giảm của kỳ tính thuế năm 2026, năm 2027 được tính trên toàn bộ thu nhập của doanh nghiệp có kỳ tính thuế theo năm, không phân biệt phương pháp tính thuế thu nhập doanh nghiệp, bao gồm cả các khoản thu nhập quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp. Số thuế thu nhập doanh nghiệp được giảm được tính trên số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của kỳ tính thuế năm 2026, năm 2027.
Trường hợp doanh nghiệp đang được ưu đãi thuế theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc các luật, nghị quyết khác của Quốc hội thì số thuế thu nhập doanh nghiệp được giảm quy định tại khoản này tính trên số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp sau khi đã trừ ưu đãi thuế.
3- Doanh thu năm làm căn cứ xác định doanh nghiệp thuộc đối tượng được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm doanh thu từ hoạt động bán hàng, cung cấp dịch vụ (không bao gồm các khoản giảm trừ doanh thu), doanh thu từ hoạt động tài chính và thu nhập khác.
a) Trường hợp kỳ tính thuế năm đầu tiên đối với doanh nghiệp mới thành lập hoặc kỳ tính thuế năm cuối cùng đối với doanh nghiệp chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức sở hữu, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, phá sản mà có thời gian ngắn hơn 03 tháng và doanh nghiệp được cộng vào kỳ tính thuế năm 2026, năm 2027 để hình thành một kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp thì việc xác định doanh thu và số thuế được giảm áp dụng đối với 12 tháng của kỳ tính thuế năm 2026, năm 2027.
b) Trường hợp doanh nghiệp có đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh thì doanh thu trong kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm doanh thu của đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh thể hiện trên báo cáo tài chính tổng hợp năm.
c) Việc xác định tổng doanh thu hằng năm của các doanh nghiệp sau chia, tách quy định tại khoản 1 Điều này là tổng cộng doanh thu của tất cả các doanh nghiệp được hình thành từ quá trình chia, tách doanh nghiệp ban đầu trong kỳ tính thuế năm 2026, năm 2027.
4- Kê khai giảm thuế
a) Doanh nghiệp dự kiến doanh thu trong kỳ tính thuế năm 2026, năm 2027 nếu không quá 10 tỷ đồng thì tự xác định số thuế được giảm khi tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp hằng quý.
b) Trường hợp tổng doanh thu thực tế trong kỳ tính thuế vượt quá 10 tỷ đồng thì doanh nghiệp thực hiện kê khai, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định. Doanh nghiệp phải nộp đủ số tiền thuế thiếu so với số phải nộp và việc xử lý tiền chậm nộp thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 24 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế.
c) Trường hợp doanh nghiệp khai bổ sung hồ sơ khai thuế thu nhập doanh nghiệp của kỳ tính thuế năm 2026, năm 2027 hoặc theo quyết định, kết luận, thông báo kết quả thanh tra, kiểm tra, kiểm toán của cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền làm tăng số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp thì số thuế tăng thêm được giảm 30% theo quy định của Nghị định này nếu doanh nghiệp vẫn đáp ứng điều kiện được giảm thuế quy định tại Điều này.
d) Trường hợp doanh nghiệp khai bổ sung hồ sơ khai thuế thu nhập doanh nghiệp của kỳ tính thuế năm 2026, năm 2027 hoặc theo quyết định, kết luận, thông báo kết quả thanh tra, kiểm tra, kiểm toán của cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền làm giảm số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp thì điều chỉnh giảm số thuế thu nhập doanh nghiệp được giảm theo quy định của Nghị định này và xử lý số tiền thuế nộp thừa (nếu có) theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 29/10/2026 và áp dụng cho kỳ tính thuế năm 2026, năm 2027.
Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức Phong trào "Toàn dân xây dựng nền quốc phòng vững mạnh, hiện đại"
Phó Thủ tướng Phan Văn Giang vừa ký Chỉ thị số 38/CT-TTg ngày 30/10/2026 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức Phong trào "Toàn dân xây dựng nền quốc phòng vững mạnh, hiện đại".
Chị thị nêu: Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, sự vào cuộc của hệ thống chính trị và toàn dân, nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân và thế trận lòng dân tiếp tục được củng cố, tăng cường và đạt nhiều kết quả quan trọng; sự kết hợp giữa quốc phòng và an ninh với phát triển kinh tế - xã hội, đối ngoại ngày càng chặt chẽ, hiệu quả, góp phần giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
Tuy nhiên, việc phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân ở một số nơi chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ; nhận thức, trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc chưa thật đầy đủ; kết hợp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với củng cố quốc phòng và an ninh có nơi chưa chặt chẽ; huy động nguồn lực xã hội, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ nhiệm vụ quốc phòng còn hạn chế.
Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường; xung đột, chiến tranh, chạy đua vũ trang diễn ra ở nhiều khu vực; các thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống gia tăng. Để nâng cao khả năng phòng thủ đất nước, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Thủ tướng Chính phủ phát động và triển khai thực hiện Phong trào "Toàn dân xây dựng nền quốc phòng vững mạnh, hiện đại" (Phong trào).
Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm và hành động của các cấp, các ngành và toàn dân
Mục tiêu nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm và hành động của các cấp, các ngành và toàn dân đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, vai trò chủ thể của Nhân dân và sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại; đột phá phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng vững mạnh, thích ứng với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để đất nước phát triển nhanh và bền vững.
Nội dung trọng tâm của phong trào
Nội dung trọng tâm của phòng trào gồm:
a- Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng, phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho toàn dân, khơi dậy mạnh mẽ lòng yêu nước, tinh thần tự lực, tự cường, khát vọng cống hiến, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của Nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
b- Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại gắn với thế trận an ninh nhân dân và thế trận lòng dân vững chắc; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh và khả năng huy động các nguồn lực phục vụ nhiệm vụ quốc phòng trong tình hình mới.
c- Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, gắn kết chặt chẽ và trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia; phát triển tiềm lực khoa học, công nghệ, hạ tầng số và năng lực bảo đảm quốc phòng đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc.
d- Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ, đối ngoại với củng cố quốc phòng và an ninh; xây dựng khu vực phòng thủ chủ động, vững chắc; nâng cao tiềm lực và thế trận quốc phòng trên từng địa bàn, lĩnh vực; huy động, quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho nhiệm vụ quốc phòng.
đ- Đẩy mạnh hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng và đối ngoại nhân dân; tăng cường hợp tác quốc tế, góp phần xây dựng môi trường hòa bình, ổn định, nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
e- Chủ động phòng ngừa, phát hiện, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; nâng cao năng lực ứng phó với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống; bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên không gian mạng và các môi trường, không gian chiến lược mới.
Tổ chức "Ngày Hội quốc phòng toàn dân" với nội dung phong phú, thiết thực, hiệu quả
Chỉ thị yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện Phong trào; tổ chức Phong trào gắn với các phong trào, cuộc vận động của Đảng, Nhà nước và nhiệm vụ chính trị, quốc phòng, an ninh bảo đảm chặt chẽ, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm; tránh chồng chéo, hình thức.
Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục theo hướng đa dạng, hiện đại; kết hợp hài hòa giữa phương thức truyền thống và nền tảng số. Phát huy tối đa hệ thống truyền thông đại chúng, mạng xã hội, lồng ghép với hoạt động văn hóa, văn nghệ, triển lãm, diễn đàn, tọa đàm; tăng cường các hình thức trực quan sinh động, với khẩu hiệu hành động dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện, phù hợp từng đối tượng, địa bàn, nhất là thanh niên, học sinh, sinh viên và Nhân dân ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo...
Đẩy mạnh hoạt động kết nghĩa quân - dân
Đồng thời, phát huy vai trò tham mưu của cơ quan quân sự địa phương các cấp, tổ chức tốt "Ngày Hội quốc phòng toàn dân" với nội dung phong phú, thiết thực, hiệu quả; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền và Nhân dân đối với nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc ngay từ cơ sở.
Đẩy mạnh hoạt động kết nghĩa quân - dân; giao lưu văn hóa với các nước bạn; thực hiện tốt các hoạt động đền ơn đáp nghĩa; chăm lo thực hiện tốt chính sách người có công với cách mạng; hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, chủ động tham gia phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn.
Mỗi tỉnh, thành phố xây dựng ít nhất một mô hình điểm về "Quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại"
Tập trung xây dựng các mô hình điểm, điển hình tiên tiến phù hợp với điều kiện từng địa phương, cơ quan, đơn vị; bảo đảm hiệu quả, bền vững và có khả năng nhân rộng. Mỗi ban, bộ, ngành Trung ương có ít nhất một mô hình hoặc cách làm hiệu quả; mỗi tỉnh, thành phố xây dựng ít nhất một mô hình điểm về "Quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại"; lấy hiệu quả thực chất, sự tham gia của Nhân dân làm tiêu chí đánh giá, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ trong xã hội.
Phát huy hiệu quả công tác dân vận của hệ thống chính trị và lực lượng vũ trang; xây dựng, nhân rộng các mô hình "Dân vận khéo" gắn với tăng cường quốc phòng, an ninh, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc trong tình hình mới.
Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân nâng cao nhận thức về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; nâng cao ý thức trách nhiệm công dân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện Phong trào ở các cấp, các ngành; định kỳ hằng năm và theo giai đoạn tổ chức sơ kết, đánh giá, rút kinh nghiệm, biểu dương, khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu; kịp thời điều chỉnh nội dung, hình thức tổ chức phù hợp.
Lộ trình triển khai
Tháng 12 năm 2026: Tổ chức phát động Phong trào trên phạm vi cả nước, bảo đảm trang trọng, thống nhất, thiết thực.
Từ năm 2027 đến năm 2035:
- Năm 2027: Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ; triển khai thực hiện Phong trào.
- Từ năm 2027 đến năm 2035: Xây dựng, nhân rộng mô hình điểm, điển hình tiên tiến. Năm 2031 tổ chức sơ kết thực hiện Phong trào.
Năm 2036: Tổ chức tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện Phong trào; xác định phương hướng, mục tiêu, giải pháp tiếp tục triển khai thực hiện giai đoạn tiếp theo.
Giải pháp tháo gỡ khó khăn trong triển khai hợp đồng lao động điện tử theo quy định tại Nghị định số 337/2025/NĐ-CP
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Nghị quyết số 44/2026/NQ-CP ngày 30/10/2026 về giải pháp tháo gỡ khó khăn trong triển khai hợp đồng lao động điện tử theo quy định tại Nghị định số 337/2025/NĐ-CP ngày 24/12/2025 của Chính phủ.
Tiếp tục cung cấp dịch vụ giao kết hợp đồng lao động điện tử đến hết ngày 31/12/2026
Nghị quyết quy định nhà cung cấp eContract trước ngày 1/7/2026 đang thực hiện cung cấp dịch vụ giao kết hợp đồng lao động điện tử nhưng đến ngày 1/7/2026 chưa hoàn thành việc kết nối eContract với Nền tảng hợp đồng lao động điện tử theo quy định tại Nghị định số 337/2025/NĐ-CP ngày 24/12/2025 của Chính phủ thì được áp dụng như sau:
a- Trong thời gian chờ kết nối eContract với Nền tảng hợp đồng lao động điện tử, Nhà cung cấp eContract được tiếp tục cung cấp dịch vụ giao kết hợp đồng lao động điện tử đến hết ngày 31/12/2026.
b- Hợp đồng lao động điện tử được giao kết trong thời gian chờ kết nối theo quy định tại điểm a khoản này có giá trị như hợp đồng lao động bằng văn bản giấy, được thực hiện theo quy định của pháp luật lao động và pháp luật giao dịch điện tử đến hết thời hạn của hợp đồng lao động điện tử.
c- Việc cấp mã định danh hợp đồng lao động điện tử (ID) đối với hợp đồng lao động điện tử quy định tại điểm b khoản này được thực hiện như đối với hợp đồng lao động điện tử giao kết trước ngày 1/7/2026 theo hướng dẫn của Bộ Nội vụ.
d- Từ ngày 1/1/2027, việc giao kết hợp đồng lao động điện tử phải đảm bảo điều kiện, phương thức quy định tại Điều 6 Nghị định số 337/2025/NĐ-CP ngày 24/12/2025 của Chính phủ.
Chậm nhất đến ngày 15/12/2026 Nền tảng hợp đồng lao động điện tử phải được vận hành chính thức
Nghị quyết nêu rõ, tạm dừng việc vận hành chính thức Nền tảng hợp đồng lao động điện tử cho đến khi có Nhà cung cấp eContract bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 6 Nghị định số 337/2025/NĐ-CP ngày 24/12/2025 của Chính phủ và hoàn thành thủ tục kết nối với Nền tảng hợp đồng lao động điện tử theo quy định của pháp luật nhưng chậm nhất đến ngày 15/12/2026 Nền tảng hợp đồng lao động điện tử phải được vận hành chính thức.
Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 30/10/2026. Các nội dung quy định tại a,b,c nêu trên được áp dụng từ ngày 1/7/2026.
Phê duyệt Chương trình "Hàng Việt vì người Việt" giai đoạn 2026 - 2030
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc ký Quyết định số 2069/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình "Hàng Việt vì người Việt" giai đoạn 2026 - 2030 (Chương trình). Hình thành các thương hiệu hàng Việt mạnh được người tiêu dùng tin tưởng
Mục tiêu tổng quát của Chương trình là xây dựng và phát triển hệ sinh thái hàng Việt Nam đảm bảo chất lượng, có sức cạnh tranh thực chất, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường và người tiêu dùng trong nước; hình thành các thương hiệu hàng Việt mạnh được người tiêu dùng tin tưởng và sẵn sàng lựa chọn; đóng góp trực tiếp vào mục tiêu tăng trưởng "02 con số" của nền kinh tế.
Đến năm 2030, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt khoảng 14.000 nghìn tỷ đồng
Cụ thể, về tiêu dùng hàng Việt và thị trường nội địa, Chương trình phấn đấu tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng trưởng bình quân 14-15%/năm giai đoạn 2026-2030; đến năm 2030 đạt khoảng 13.500-14.000 nghìn tỷ đồng.
Duy trì tỷ lệ hàng Việt Nam tại các siêu thị, trung tâm thương mại trong nước đạt trên 80%; tại các kênh thương mại truyền thống đạt trên 60%. Tốc độ tăng trưởng doanh thu thị trường nội địa các ngành sản xuất hàng tiêu dùng Việt đạt bình quân 12-15%/năm. Trên 70% doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất hàng tiêu dùng ứng dụng thương mại điện tử; phấn đấu 45% số doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực thương mại tham gia các sàn thương mại điện tử lớn trong và ngoài nước...
Về tiêu chuẩn kỹ thuật và chất lượng sản phẩm, Chương trình phấn đấu hoàn thành xây dựng và công bố bộ nhận diện "Hàng Việt vì người Việt" trên cơ sở các TCVN, QCVN và quy định chuyên ngành, tiệm cận thông lệ quốc tế; triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa phù hợp với quy định pháp luật về truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn quốc gia áp dụng và quy định chuyên ngành; bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu với Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia và các cơ sở dữ liệu có liên quan.
Hình thành ít nhất 5 gian hàng số chuyên ngành hàng Việt trên các sàn thương mại điện tử lớn
Về chuyển đổi số và phân phối hiện đại, Chương trình phấn đấu xây dựng và vận hành Nền tảng số hàng Việt Nam phục vụ Chương trình theo hướng kết nối, liên thông và xác thực các dữ liệu cần thiết về doanh nghiệp, sản phẩm, kết quả đánh giá đáp ứng tiêu chí, truy xuất nguồn gốc, điểm phân phối và phản hồi của người tiêu dùng. Hình thành ít nhất 5 gian hàng số chuyên ngành hàng Việt trên các sàn thương mại điện tử lớn.
Tốc độ tăng trưởng bình quân doanh số thương mại điện tử 23-25%/năm, doanh số thương mại điện tử đạt khoảng 93-97 tỷ USD vào năm 2030, chiếm 18-19% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước.
Để đạt được các mục tiêu trên, Chương trình đưa ra các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu sau:
1. Nhóm giải pháp truyền thông - Chiến dịch "Hàng Việt vì người Việt"
Xây dựng và triển khai chiến dịch truyền thông quốc gia với thông điệp "Hàng Việt vì người Việt"; tập trung giới thiệu sản phẩm, thương hiệu, doanh nghiệp Việt, chất lượng, nguồn gốc và địa chỉ mua hàng; lồng ghép vào các sự kiện quốc gia, lễ hội, ngày mua sắm trực tuyến.
Xây dựng, vận hành và phát triển chuyên trang "Hàng Việt vì người Việt" trên các cơ quan truyền thông, báo chí cập nhật thông tin về sản phẩm, doanh nghiệp, địa phương, điểm bán và các hoạt động của Chương trình.
Xây dựng và vận hành hệ thống tài khoản mạng xã hội chính thức mang thương hiệu "Hàng Việt vì người Việt" trên các nền tảng có lượng người dùng lớn tại Việt Nam; sản xuất thường xuyên các nội dung ngắn, trực quan, phù hợp xu hướng như video ngắn, livestream, infographic, câu chuyện sản phẩm, trải nghiệm người tiêu dùng và giới thiệu điểm bán...
2. Nhóm giải pháp phát triển kênh phân phối hiện đại và thương mại điện tử
Xây dựng và vận hành các "Gian hàng Việt Nam" chuyên ngành trên các sàn thương mại điện tử; thiết lập nhãn nhận diện thống nhất trên môi trường số. Thúc đẩy mô hình bán lẻ đa kênh tích hợp; phát triển chuỗi cung ứng hàng Việt; đổi mới phương thức phân phối, hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh đưa hàng Việt lên các sàn thương mại điện tử và kênh livestream thương mại.
Phát triển xuất khẩu tại chỗ qua kênh du lịch, dịch vụ; xây dựng các điểm trưng bày, giới thiệu và bán hàng Việt tại cửa khẩu, cảng biển, sân bay, khu du lịch; đẩy mạnh chuyển đổi số trong du lịch mua sắm, đồng thời tận dụng các nền tảng thương mại điện tử để đáp ứng nhu cầu mua sắm hàng Việt của khách du lịch.
Khuyến khích tiêu dùng, sử dụng hàng hóa có xuất xứ Việt Nam trong khu vực công. Khuyến khích hình thành chuỗi liên kết từ vùng nguyên liệu đến hệ thống phân phối và thị trường tiêu thụ; xây dựng chương trình kết nối cung cầu theo từng nhóm sản phẩm chủ lực; tăng cường liên kết giữa địa phương sản xuất với các trung tâm tiêu dùng lớn...
3. Nhóm giải pháp xây dựng hệ sinh thái "Hàng Việt vì người Việt"
Xây dựng và ban hành bộ nhận diện "Hàng Việt vì người Việt" thống nhất trên toàn quốc. Công bố và duy trì danh sách doanh nghiệp, sản phẩm đáp ứng tiêu chí nhận diện trên Nền tảng số hàng Việt Nam phục vụ Chương trình; kết nối với các sàn thương mại điện tử và hệ thống bán lẻ để người tiêu dùng tra cứu, xác minh và đánh giá ngay tại điểm mua.
Đưa bộ nhận diện "Hàng Việt vì người Việt" xuất hiện đồng bộ trên mọi điểm chạm với người tiêu dùng: bao bì sản phẩm, điểm bán, gian hàng thương mại điện tử, ấn phẩm và sự kiện truyền thông của Chương trình.
Xây dựng chuyên mục, chiến dịch truyền thông định kỳ giới thiệu sản phẩm, doanh nghiệp đáp ứng tiêu chí Chương trình trên truyền hình, báo chí, nền tảng số và mạng xã hội; ưu tiên hợp tác với người có ảnh hưởng, nhà sáng tạo nội dung am hiểu từng ngành hàng; tổ chức "Ngày hội hàng Việt vì người Việt" thường niên tại đô thị lớn và sự kiện lưu động tại địa phương...
4. Kích cầu tiêu dùng, thúc đẩy sức mua và đa dạng hóa hình thức tiêu dùng hàng hóa
Tổ chức các chương trình khuyến mại tập trung quy mô lớn, thực chất và hiệu quả theo mùa vụ, dịp lễ, Tết, ngày mua sắm trực tuyến; phối hợp giữa nhà sản xuất, nhà phân phối và các sàn thương mại điện tử triển khai đồng thời trên cả kênh truyền thống và kênh số; đảm bảo khuyến mại thực chất, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Khai thác và phát huy tiềm năng tiêu dùng gắn với du lịch; xây dựng văn hóa mua sắm, trải nghiệm sản phẩm, ẩm thực, thủ công mỹ nghệ Việt Nam trở thành một phần của sản phẩm du lịch; mở rộng kênh tiêu thụ hàng Việt qua các điểm du lịch, lễ hội, sự kiện văn hóa quốc gia và địa phương.
Phát triển và đa dạng hóa các dịch vụ hỗ trợ tiêu dùng; khuyến khích tiêu dùng xanh, tiêu dùng bền vững; ưu tiên sản phẩm Việt Nam đạt nhãn sinh thái, nhãn năng lượng, sản phẩm tái chế, thân thiện môi trường...
5. Nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh và phát huy vai trò của Hiệp hội
Xây dựng và triển khai chương trình đào tạo, bồi dưỡng năng lực kinh doanh, marketing, xây dựng thương hiệu, thương mại điện tử, phát triển hệ thống và chuyển đổi số...; ưu tiên đào tạo tại địa phương, gắn với nhu cầu từng ngành hàng và vùng kinh tế. Hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thông tin thị trường, xu hướng tiêu dùng, phân tích cạnh tranh và dự báo nhu cầu thông qua nền tảng số quốc gia. Tổ chức nghiên cứu, học tập kinh nghiệm quốc tế về phát triển thương hiệu và tổ chức hệ thống phân phối hiện đại; áp dụng có chọn lọc vào điều kiện Việt Nam.
Triển khai chương trình xây dựng thương hiệu tiên phong theo cơ chế "Nhà nước hỗ trợ - Hiệp hội chủ trì - Doanh nghiệp bứt phá" cho các ngành hàng. Thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa; khuyến khích doanh nghiệp FDI ưu tiên mua hàng từ nhà cung ứng Việt đáp ứng tiêu chí. Khuyến khích doanh nghiệp sản xuất, hợp tác xã, chủ thể OCOP ứng dụng chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu và tham gia các sàn thương mại điện tử, góp phần mở rộng thị trường tiêu thụ hàng Việt...
6. Nhóm giải pháp tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Tăng cường lực lượng quản lý thị trường, hải quan và các lực lượng chức năng kiểm tra, xử lý nghiêm hành vi sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, hàng nhập lậu và gian lận xuất xứ trên cả kênh truyền thống và thương mại điện tử; ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong phát hiện vi phạm.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, tiêu chuẩn đo lường chất lượng, nhãn hàng hóa và truy xuất nguồn gốc; nâng cao năng lực sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại khi đáp ứng đầy đủ điều kiện, trình tự và căn cứ theo quy định của pháp luật và cam kết quốc tế. Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành; thiết lập đường dây nóng tiếp nhận, xử lý nhanh phản ánh của người tiêu dùng và doanh nghiệp. Tăng cường truyền thông, cảnh báo và hướng dẫn kỹ năng nhận diện hàng thật, hàng hóa được xác nhận đạt tiêu chí cho người tiêu dùng trong môi trường mua sắm đa kênh.
7. Nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế, chính sách
Rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thương mại trong nước, tiêu chuẩn chất lượng, phân phối, xúc tiến thương mại, thương mại điện tử và bảo vệ người tiêu dùng; kịp thời tháo gỡ các rào cản thể chế, chính sách.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách về quản lý thị trường theo hướng nâng cao hiệu lực, hiệu quả kiểm tra, kiểm soát thị trường, nhất là trên môi trường thương mại điện tử.
Xây dựng và vận hành Nền tảng số hàng Việt Nam phục vụ Chương trình là lớp liên thông và xác thực dữ liệu, kết nối với các cơ sở dữ liệu nhà nước và nền tảng thương mại hiện có. Nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển hạ tầng thương mại, đặc biệt tại vùng nông thôn, vùng đặc biệt khó khăn.
Kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị số 14-CT/TW ngày 22/9/2026 của Ban Bí thư tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người khuyết tật trong tình hình mới
Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 2071/QĐ-TTg ngày 30/10/2026 ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị số 14-CT/TW ngày 22/9/2026 của Ban Bí thư tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người khuyết tật trong tình hình mới (Kế hoạch).
Mục tiêu đến năm 2030 nhằm bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của người khuyết tật; ưu tiên chăm lo cho những người khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn hoặc không có khả năng tự bảo đảm cuộc sống; đồng thời, mở rộng tối đa cơ hội học tập, lao động, khởi nghiệp, sáng tạo, sản xuất, kinh doanh và tham gia các hoạt động xã hội, để người khuyết tật có khả năng phát huy năng lực, tự chủ, cống hiến, thụ hưởng thành quả phát triển; bảo đảm sự tham gia phù hợp của người khuyết tật vào các cơ quan dân cử.
Nâng cao chất lượng và hiệu quả chính sách an sinh xã hội đối với người khuyết tật theo hướng tôn trọng quyền của người khuyết tật, bảo đảm mức sống tối thiểu, hỗ trợ bảo hiểm y tế, hỗ trợ người khuyết tật phát triển năng lực, tự chủ và hòa nhập xã hội.
Trẻ em từ sơ sinh đến 6 tuổi được sàng lọc, phát hiện sớm khuyết tật bẩm sinh, rối loạn phát triển và được can thiệp sớm phù hợp với từng dạng khuyết tật; trẻ em và người khuyết tật được tiếp cận các dịch vụ phẫu thuật chỉnh hình, phục hồi chức năng và được cung cấp dụng cụ trợ giúp phù hợp. Trẻ em khuyết tật trong độ tuổi mầm non và phổ thông được tạo mọi cơ hội tiếp cận giáo dục phù hợp, hòa nhập và phát triển toàn diện. Người khuyết tật có nhu cầu được hỗ trợ đào tạo kỹ năng nghề, tiếp cận việc làm, vay vốn tạo sinh kế, khởi nghiệp hoặc phát triển sản xuất, kinh doanh.
Các công trình xây dựng mới, công trình công cộng được cải tạo, nâng cấp phải đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện tiếp cận và sử dụng đối với người khuyết tật. Người khuyết tật được tiếp cận và sử dụng các dịch vụ công, dịch vụ công nghệ thông tin và truyền thông; được cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí.
Các tỉnh, thành phố phát triển các thiết chế, câu lạc bộ và phong trào thể dục, thể thao dành cho người khuyết tật; tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật tham gia tập luyện thể dục, thể thao; tạo cơ hội để người khuyết tật tiếp cận, tham gia, thụ hưởng các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, vui chơi, giải trí và các hoạt động xã hội.
Phát triển hệ thống an sinh xã hội bao trùm, bình đẳng, hòa nhập đối với người khuyết tật
Tầm nhìn đến năm 2045 phát triển hệ thống an sinh xã hội bao trùm, bình đẳng, hòa nhập đối với người khuyết tật; nâng cao chất lượng cuộc sống, tạo điều kiện để người khuyết tật phát triển toàn diện, sống độc lập và được thụ hưởng đầy đủ các thành quả phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; hỗ trợ người khuyết tật trở thành nguồn nhân lực chất lượng, đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, thịnh vượng của đất nước trong kỷ nguyên mới.
6 nhiệm vụ, giải pháp thực hiện
Kế hoạch đưa ra 6 nhiệm vụ, giải pháp sau:
1- Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan, tổ chức và Nhân dân trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác người khuyết tật. Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát việc thực hiện; xác định công tác người khuyết tật là nhiệm vụ thường xuyên trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an sinh xã hội. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục để xóa bỏ định kiến, kỳ thị, phân biệt đối xử; xây dựng môi trường xã hội tôn trọng, bình đẳng, nhân ái, sẻ chia; tạo điều kiện để người khuyết tật tự tin, tự chủ, hòa nhập và tham gia, đóng góp cho cộng đồng và xã hội.
2- Hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về người khuyết tật; thực hiện đầy đủ, hiệu quả các điều ước quốc tế nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật. Nâng cao chất lượng, hiệu quả chính sách an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, phục hồi chức năng, hòa nhập, đào tạo nghề, việc làm, sinh kế, vay vốn, trợ giúp pháp lý; nâng cao khả năng tiếp cận hạ tầng, công trình công cộng, nhà ở, giao thông, thông tin, truyền thông và các dịch vụ thiết yếu; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số để hỗ trợ người khuyết tật phát huy năng lực, nâng cao tính tự chủ và chất lượng cuộc sống.
3- Tăng cường phòng ngừa khuyết tật, phát hiện sớm, chẩn đoán, can thiệp sớm và phục hồi chức năng; chủ động phòng ngừa, giảm thiểu các nguyên nhân và trường hợp khuyết tật mới có thể phòng ngừa được, nhất là do tai nạn giao thông, tai nạn nghề nghiệp, bệnh tật; chăm lo, hỗ trợ trẻ em khuyết tật, người nhiễm chất độc da cam và các nhóm người khuyết tật có hoàn cảnh đặc biệt. Khuyến khích, hỗ trợ người dân chủ động tiếp cận dịch vụ tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn, khám sàng lọc trước sinh, sơ sinh; khám sàng lọc một số loại bệnh tật phổ biến, nguy cơ khuyết tật phù hợp với từng lứa tuổi, nhóm đối tượng, nhất là trẻ em sơ sinh đến 6 tuổi.
4- Tăng cường khả năng tiếp cận của người khuyết tật là yêu cầu bắt buộc xuyên suốt trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách, từ khâu hoạch định, quy hoạch, thiết kế, đầu tư, xây dựng, giám sát công trình đến cung cấp sản phẩm, dịch vụ và phát triển các nền tảng số. Ưu tiên nguồn lực cải tạo, nâng cấp các công trình công cộng, giao thông và hạ tầng thiết yếu; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số; tích hợp các nền tảng số để hình thành hệ sinh thái công nghệ trợ giúp toàn diện, thuận tiện, an toàn cho người khuyết tật; phát triển các phong trào thể dục, thể thao, văn hóa, nghệ thuật, vui chơi, giải trí cho người khuyết tật.
5- Thực hiện đồng bộ các giải pháp hiệu quả nhằm phát hiện sớm trẻ em có dấu hiệu bất thường, được đến trường, học tập và tham gia các hoạt động giáo dục, phổ cập giáo dục; tạo điều kiện hỗ trợ để người khuyết tật học tập ở các cấp học của hệ thống giáo dục, đào tạo nghề. Phát triển hệ thống các trung tâm hỗ trợ giáo dục hòa nhập và các cơ sở giáo dục chuyên biệt theo quy hoạch; xây dựng trường học, cơ sở chăm sóc ban ngày; chương trình giáo dục, can thiệp phù hợp đối với trẻ tự kỷ và trẻ có nhu cầu hỗ trợ đặc biệt.
6- Chỉ đạo các cơ quan bảo vệ pháp luật, chính quyền các cấp và lực lượng chức năng chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh các hành vi bạo lực, xâm hại, ngược đãi, bỏ rơi, phân biệt đối xử hoặc lợi dụng người khuyết tật để trục lợi.
Ban hành Quy chế làm việc của Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 2070/QĐ-TTg ban hành Quy chế làm việc của Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương.
Quy chế này quy định nguyên tắc hoạt động; chức năng, cơ cấu tổ chức, thành phần; nhiệm vụ, quyền hạn; hoạt động của Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương; quan hệ với Hội đồng Thi đua - Khen thưởng các cấp, các ngành; khen thưởng (Quy chế Hội đồng).
Nguyên tắc hoạt động của Hội đồng
Hội đồng hoạt động theo nguyên tắc tập trung, dân chủ, biểu quyết theo đa số; các ý kiến khác nhau của các Ủy viên Hội đồng về việc đề xuất các chủ trương, chính sách về thi đua, khen thưởng đều được báo cáo với Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng để xem xét, quyết định.
Chức năng và nhiệm vụ của Hội đồng
Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương là tổ chức phối hợp liên ngành, có chức năng tham mưu, tư vấn cho Đảng và Nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng.
Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1- Thực hiện sự phối hợp giữa các cơ quan Đảng, Nhà nước, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội và các địa phương trong việc tham mưu, đề xuất chủ trương, chính sách về tổ chức phong trào thi đua và công tác thi đua, khen thưởng trong phạm vi cả nước.
2- Định kỳ đánh giá phong trào thi đua và công tác khen thưởng; kiến nghị, đề xuất chủ trương, biện pháp đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước; tham mưu tổng kết công tác thi đua, khen thưởng; đề xuất sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách về thi đua, khen thưởng, kiểm tra công tác thi đua, khen thưởng.
3- Thành lập, hướng dẫn và tổ chức hoạt động và bình xét thi đua của cụm thi đua, khối thi đua do Hội đồng tổ chức.
4- Xem xét, cho ý kiến bằng hình thức bỏ phiếu đối với các danh hiệu vinh dự nhà nước "Tỉnh Anh hùng", "Thành phố Anh hùng", "Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân", "Anh hùng Lao động" theo quy định của Luật Thi đua, khen thưởng (gọi tắt là danh hiệu Anh hùng) để tham mưu, tư vấn cho cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Cơ cấu tổ chức; thành phần của Hội đồng
Hội đồng có Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên Hội đồng.
Chủ tịch Hội đồng là Thủ tướng Chính phủ.
Các Phó Chủ tịch gồm: Phó Chủ tịch nước (Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng); Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách lĩnh vực Nội vụ; Bộ trưởng Bộ Nội vụ (Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng).
Các thành viên Ủy viên Hội đồng gồm: Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước; Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội; đại diện lãnh đạo Bộ Công an; đại diện lãnh đạo Bộ Quốc phòng; đại diện lãnh đạo Ban Tổ chức Trung ương; đại diện lãnh đạo Ủy ban Kiểm tra Trung ương; đại diện lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương; Chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam; Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam; Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Trưởng ban Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương (Ủy viên thường trực Hội đồng).
Thường trực Hội đồng gồm: Chủ tịch Hội đồng; các Phó Chủ tịch Hội đồng và Ủy viên thường trực Hội đồng.
Bộ Nội vụ là cơ quan thường trực của Hội đồng.
Nhiệm vụ của Cơ quan thường trực của Hội đồng
Bộ Nội vụ là Cơ quan thường trực của Hội đồng, giúp việc cho Hội đồng và Thường trực Hội đồng, có các nhiệm vụ sau đây:
1- Dự thảo nội dung các văn bản theo quy định tại Điều 6 của Quy chế này.
2- Tham mưu và triển khai thực hiện trình tự thủ tục hồ sơ trình Hội đồng và Thường trực Hội đồng về các trường hợp đề nghị tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng, tặng danh hiệu "Chiến sĩ thi đua toàn quốc", "Cờ thi đua của Chính phủ", Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ quy định tại khoản 5 Điều 6 Quy chế này để Hội đồng và Thường trực Hội đồng xem xét, quyết định theo thẩm quyền.
3- Tổng hợp ý kiến của các thành viên Hội đồng về việc đề nghị tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng. Trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, trình Chủ tịch nước quyết định phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng đối với các trường hợp đạt số phiếu đồng ý của các thành viên Hội đồng theo quy định.
4- Tổng hợp ý kiến của các thành viên thường trực Hội đồng về việc đề nghị tặng danh hiệu "Chiến sĩ thi đua toàn quốc", "Cờ thi đua của Chính phủ"; Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
5- Tổ chức triển khai thực hiện các kết luận của Hội đồng; tham mưu cho Chủ tịch Hội đồng và Hội đồng giải quyết các công việc, nhiệm vụ thuộc thẩm quyền của Hội đồng, các ý kiến đề nghị của Hội đồng Thi đua - Khen thưởng các bộ, ban, ngành, tỉnh, thành phố; tổng hợp báo cáo công tác của Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương.
6- Trong trường hợp điều kiện khách quan cho phép, Cơ quan thường trực sẽ thực hiện việc gửi hồ sơ tài liệu, lấy ý kiến và biểu quyết trên môi trường điện tử tới các thành viên Hội đồng.
Đối với các hồ sơ mật được lưu trữ, bảo quản theo quy định về bảo vệ bí mật nhà nước. Cơ quan thường trực chịu trách nhiệm lưu trữ phiếu kèm theo hồ sơ anh hùng theo quy định.
7- Phối hợp với các cơ quan liên quan chuẩn bị các điều kiện cần thiết để Hội đồng, Thường trực Hội đồng họp và xem xét việc tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng; tặng danh hiệu "Chiến sĩ thi đua toàn quốc", "Cờ thi đua của Chính phủ", Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ quy định tại khoản 4 Điều 5 và khoản 5 Điều 6 Quy chế này.
8- Dự trù kinh phí hoạt động của Hội đồng, Thường trực Hội đồng.
Kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc, Chủ tịch Hội đồng thẩm định tại Phiên họp Hội đồng thẩm định Quy hoạch khoáng sản nhóm I thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050
Văn phòng Chính phủ có văn bản số 561/TB-VPCP ngày 30/10/2026 thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc, Chủ tịch Hội đồng thẩm định tại Phiên họp Hội đồng thẩm định Quy hoạch khoáng sản nhóm I thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Để triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, Kết luận số 18-KL/TW Hội nghị Trung ương 2 với mục tiêu tăng trưởng bình quân đạt 10% trở lên, mọi nguồn lực về đất đai, tài nguyên, khoáng sản phải được giải phóng và sử dụng hiệu quả. Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị đã yêu cầu khai thác khoáng sản phải gắn với chế biến sâu, với địa chỉ sử dụng, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên.
Thời gian qua, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều luật, nghị quyết, nghị định quan trọng; Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ đã có nhiều văn bản chỉ đạo khẩn trương điều chỉnh Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2035 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 866/QĐ-TTg (gọi tắt là Quy hoạch 866) để kịp thời tháo gỡ các vướng mắc, mở đường cho nguồn lực này được khai thông, đóng góp tích cực vào phát triển của địa phương và cả nước.
Thực tế triển khai Quy hoạch 866 và quá trình tổ chức nghiên cứu điều chỉnh quy hoạch vừa qua còn nhiều hạn chế.
Quá trình triển khai thực hiện Quy hoạch 866 cho thấy điểm nghẽn nằm ở cả khâu lập quy hoạch và khâu tổ chức thực hiện: khoanh định chưa bám sát tài liệu địa chất và hiện trạng sử dụng đất; phối hợp rà soát giữa bộ, ngành và địa phương chưa chặt chẽ; sai sót về tọa độ, trữ lượng, công suất kéo dài nhiều năm mới được phát hiện, gây khó khăn cho người dân, doanh nghiệp và địa phương.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 10-NQ/TW thành nguyên tắc triển khai dự án
Để tiếp tục hoàn thiện, khẩn trương trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch khoáng sản nhóm I trong đầu tháng 11/2026, bảo đảm 04 yêu cầu "đúng - trúng - khả thi - hiệu quả", Hội đồng thẩm định thống nhất đề nghị Bộ Công Thương với vai trò là cơ quan tổ chức lập quy hoạch và cơ quan Thường trực Hội đồng thẩm định tiếp thu đầy đủ ý kiến của thành viên Hội đồng, các Ủy viên phản biện, các bộ, cơ quan và 34 tỉnh, thành phố.
Đồng thời, chỉ đạo cơ quan lập quy hoạch điều chỉnh tiếp thu, hoàn thiện hồ sơ quy hoạch, báo cáo rõ nội dung tiếp thu, giải trình ý kiến Hội đồng thẩm định, hoàn thiện hồ sơ quy hoạch; cơ quan Thường trực Hội đồng thẩm định hoàn thiện Dự thảo Báo cáo thẩm định, Dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ và xin ý kiến thành viên Hội đồng thẩm định trước ngày 31/10/2026 và chịu trách nhiệm toàn diện về tính chính xác của nội dung, số liệu hồ sơ trình, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đầu tháng 11/2026.
Đối với khoáng sản bô-xít: thống nhất phương án khoanh định theo diện phân bố thân quặng trên cơ sở kết quả điều tra, đánh giá, thăm dò, giữ nguyên mục tiêu, quy mô trữ lượng, tài nguyên và số lượng cụm tổ hợp bô-xít - alumin theo Quy hoạch 866; trong phạm vi quy hoạch, ưu tiên thực hiện các dự án quan trọng quốc gia, các tuyến đường cao tốc khi có quyết định của cấp có thẩm quyền.
Đối với các diện tích chồng lấn khu dân cư hiện hữu, công trình công cộng, hạ tầng và 06 dự án điện gió, Bộ Công Thương nghiên cứu, xem xét báo cáo Thủ tướng Chính phủ việc đưa khu vực nêu trên vào khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia theo đúng quy định.
Đối với việc xử lý các dự án chồng lấn, Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Ủy ban nhân dân các tỉnh Lâm Đồng, Đồng Nai rà soát, phân loại từng khu vực theo thời điểm hình thành, tình trạng pháp lý các dự án đang chồng lấn để xử lý theo thẩm quyền, trường hợp vượt thẩm quyền báo cáo Thủ tướng Chính phủ, cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý, sớm đưa các dự án vào khai thác, vận hành để phát huy tối đa giá trị đầu tư của các dự án, phục vụ phát triển kinh tế xã hội, không để lãng phí nguồn lực; tuyệt đối không để hợp thức hóa các sai phạm đã được cơ quan có thẩm quyền kết luận.
Đối với Dự án mỏ sắt Thạch Khê - Hà Tĩnh: nghiên cứu điều chỉnh công suất bảo đảm phù hợp với tình hình thực tế, đây là dự án có quy mô rất lớn, đã được cấp có thẩm quyền chỉ đạo, tháo gỡ khó khăn, đề nghị Bộ Công Thương, tỉnh Hà Tĩnh khẩn trương triển khai, sớm tổ chức khai thác ngay trong đầu năm 2027 để đóng góp vào phát triển kinh tế xã hội của địa phương và cả nước.
Đối với khoáng sản Cromit: nghiên cứu đề xuất của Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa để xử lý bảo đảm đúng quy định pháp luật, khoa học, hiệu quả.
Đối với khoáng sản titan: việc cấp phép thăm dò, khai thác mới phải gắn với chế biến sản xuất pigment; lựa chọn chủ đầu tư thực hiện các dự án khai thác mới phải đủ năng lực thực hiện đồng bộ các dự án từ khâu khai thác đến chế biến sản xuất ra pigment, sử dụng công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại, bảo vệ môi trường.
Đối với khoáng sản than: bảo đảm yêu cầu tích hợp thống nhất với Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia, Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia điều chỉnh, đáp ứng nhu cầu than cho sản xuất điện; bổ sung quy định chuyển tiếp cho các dự án đang triển khai.
Bộ Công Thương cụ thể hóa Nghị quyết số 10-NQ/TW thành nguyên tắc triển khai dự án: khai thác gắn với cơ sở chế biến hoặc địa chỉ sử dụng khoáng sản, công nghệ tiên tiến, thu hồi khoáng sản đi kèm, kinh tế tuần hoàn; bổ sung bảng cân đối trữ lượng - khai thác - chế biến - sử dụng đối với các khoáng sản chủ yếu; không đặt thêm điều kiện cấp phép trái quy định của Luật.
Đồng thời, rà soát, thống nhất toàn bộ số liệu giữa Tờ trình, dự thảo Quyết định, Thuyết minh, phụ lục, bản đồ, cơ sở dữ liệu (nhu cầu vốn, diện tích, công suất, đơn vị hành chính hai cấp), bảo đảm đồng độ, đúng quy định.
Rà soát kỹ các nội dung kiến nghị, đề xuất của các địa phương như Điện Biên, Lâm Đồng,…. Tiếp thu tối đa, trao đổi, làm việc cụ thể để làm rõ, thống nhất các nội dung không tiếp thu để bảo đảm quá trình thực hiện không còn vướng mắc, khó khăn.
Bên cạnh đó, khẩn trương xây dựng Kế hoạch thực hiện quy hoạch, ban hành ngay theo thẩm quyền sau khi quy hoạch được phê duyệt để sớm tổ chức thực hiện, bảo đảm hiệu quả; nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật về địa chất, khoáng sản để cho phép địa phương triển khai dự án hạ tầng, công trình vì lợi ích quốc gia, công cộng trong khu vực quy hoạch, khu vực dự trữ khoáng sản, sử dụng quỹ đất sau khai thác, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người dân.
Không để phát sinh công trình, dự án trái phép trong khu vực quy hoạch
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, trên cơ sở hồ sơ tài liệu quy hoạch hôm nay, rà soát kỹ lưỡng thêm một lần nữa các nội dung cần thiết phải bổ sung, các nội dung cần thiết phải sửa đổi, nhất là các nội dung chồng lấn để hoàn thiện, gửi Bộ Công Thương ý kiến bằng văn bản kèm ranh giới, tọa độ, diện tích và căn cứ pháp lý của các khu vực; chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong trường hợp còn vướng mắc do không rà soát kỹ, góp ý đầy đủ theo Văn bản số 10763/VPCP-CN ngày 22/10/2026.
Sau khi quy hoạch được phê duyệt, cập nhật vào quy hoạch tỉnh; quản lý, bảo vệ chặt chẽ khoáng sản chưa khai thác; không để phát sinh công trình, dự án trái phép trong khu vực quy hoạch và khu vực dự trữ khoáng sản; phân công một đồng chí lãnh đạo Uỷ ban nhân dân tỉnh trực tiếp chỉ đạo, giao Sở Công Thương làm đầu mối tham mưu.
Ủy ban nhân dân các tỉnh Lâm Đồng, Đồng Nai phối hợp chặt chẽ với Bộ Công Thương rà soát, phân loại các diện tích chồng lấn, cung cấp đầy đủ hồ sơ pháp lý, tình hình khắc phục theo kết luận thanh tra đối với các dự án liên quan.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp, bàn giao đầy đủ hồ sơ, tài liệu, cơ sở dữ liệu liên quan; phối hợp chặt chẽ với Bộ Công Thương về đất đai, rừng, môi trường trong hoàn thiện hồ sơ và xử lý các khu vực chồng lấn.
Các Bộ: Tài chính, Tư pháp, Xây dựng, Quốc phòng, Công an, theo chức năng, nhiệm vụ, phối hợp chặt chẽ, có ý kiến kịp thời khi Bộ Công Thương đề nghị; Bộ Tài chính cập nhật hồ sơ quy hoạch trên Hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu quốc gia về quy hoạch.
Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam phối hợp cung cấp số liệu, cân đối nguồn nguyên liệu bô-xít cho các tổ hợp alumin Nhân Cơ, Tân Rai và nhu cầu than cho sản xuất điện; đẩy nhanh các dự án mở rộng, nâng công suất theo quy hoạch.
Các Ủy viên Hội đồng, Ủy viên phản biện: gửi ý kiến, phiếu nhận xét bằng văn bản về Bộ Công Thương để tiếp thu, hoàn thiện hồ sơ.
Văn phòng Chính phủ theo dõi, đôn đốc; phối hợp với Bộ Công Thương hoàn thiện hồ sơ, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt Quy hoạch khoáng sản nhóm I trong đầu tháng 11/2026.
Tháo gỡ bất cập trong hoạt động thu phí điện tử đường bộ
Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản số 11066/VPCP-CN ngày 30/10/2026 truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc về xử lý bất cập trong hoạt động thu phí điện tử đường bộ.
Văn bản nêu: Xét báo cáo của Bộ Xây dựng về kết quả kiểm tra, rà soát việc thu phí sử dụng ví điện tử khi liên kết với tài khoản giao thông, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc giao Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan: Tài chính, Công Thương, Tư pháp, Khoa học và Công nghệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các cơ quan có liên quan có giải pháp phù hợp để xử lý các bất cập trong hoạt động thu phí sử dụng đường bộ (nếu có), bảo đảm nguyên tắc chủ phương tiện được quyền lựa chọn dịch vụ để thanh toán phí sử dụng đường bộ và thực hiện theo đúng các hợp đồng đã ký kết, không làm tăng mức phí đối với hoạt động thanh toán phí sử dụng đường bộ theo quy định của pháp luật; báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15/11/2026./.