Trao đổi với Báo điện tử Chính phủ, GS.TS Từ Thị Loan – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Thăng Long, Ủy viên Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia cho rằng, để di sản trở thành động lực phát triển công nghiệp văn hóa cần được đặt trong một hệ sinh thái sáng tạo, có thể chế phù hợp, có thị trường và bảo đảm hài hòa giữa bảo tồn, khai thác và phát triển bền vững.
Xây dựng hệ sinh thái dữ liệu di sản trong kỷ nguyên số
Theo GS.TS Từ Thị Loan, để phát huy giá trị di sản văn hóa trong kỷ nguyên số, trước hết cần thay đổi tư duy từ số hóa di sản để lưu trữ, bảo tồn sang xây dựng hệ sinh thái dữ liệu di sản phục vụ quản lý, nghiên cứu, sáng tạo và phát triển công nghiệp văn hóa. Muốn vậy, cần tập trung vào một số chính sách trọng tâm.
Thứ nhất, xây dựng chiến lược quốc gia về dữ liệu di sản văn hóa, bảo đảm thống nhất từ Trung ương đến địa phương, khắc phục tình trạng số hóa phân tán, thiếu kết nối, mỗi nơi một chuẩn. Cần ban hành bộ tiêu chuẩn chung về định danh, phân loại, siêu dữ liệu, chất lượng số hóa và khả năng liên thông, tiến tới hình thành cơ sở dữ liệu di sản văn hóa quốc gia đồng bộ, có khả năng tích hợp với các nền tảng dữ liệu khác.
Thứ hai, hoàn thiện cơ chế quản trị, chia sẻ và khai thác dữ liệu di sản. Cần xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý, bảo tàng, tổ chức lưu trữ và cộng đồng chủ thể di sản; đồng thời quy định minh bạch về quyền sở hữu trí tuệ, quyền tiếp cận, sử dụng và khai thác thương mại dữ liệu, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, cộng đồng và doanh nghiệp.
Thứ ba, có chính sách đầu tư và huy động nguồn lực xã hội, khuyến khích hợp tác công - tư trong xây dựng hạ tầng dữ liệu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, công nghệ 3D, thực tế ảo và phát triển nguồn nhân lực số chuyên ngành di sản.
Thứ tư, thiết lập cơ chế kết nối dữ liệu di sản với hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, tạo điều kiện để các doanh nghiệp sáng tạo khai thác hợp pháp nguồn tài nguyên này trong phát triển điện ảnh, thiết kế, thời trang, du lịch văn hóa, trò chơi điện tử và các sản phẩm nội dung số.
Quan trọng hơn, cần coi dữ liệu di sản không chỉ là tài sản lưu trữ mà còn là nguồn tài nguyên văn hóa số có khả năng tạo ra giá trị mới, góp phần bảo tồn bản sắc, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế văn hóa bền vững.
Bảo đảm hài hòa giữa bảo tồn, khai thác và phát triển bền vững
GS.TS Từ Thị Loan khẳng định, để hiện thực hóa mục tiêu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP vào năm 2030 theo Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị, cần có sự chuyển đổi căn bản từ tư duy bảo tồn di sản đơn thuần sang bảo tồn gắn với khai thác hợp lý, sáng tạo và phát triển kinh tế di sản. Trong đó, cần cụ thể hóa một số chính sách trọng tâm.
Trước hết, hoàn thiện thể chế để chuyển hóa tài nguyên di sản thành nguồn lực phát triển. Cần xây dựng cơ chế khai thác, sử dụng và thương mại hóa các giá trị di sản một cách có trách nhiệm, xác định rõ quyền và nghĩa vụ của Nhà nước, cộng đồng chủ thể và doanh nghiệp; đồng thời bảo đảm nguyên tắc bảo tồn tính nguyên gốc, tính xác thực và sự toàn vẹn của di sản.
Tiếp theo, ban hành các chính sách ưu đãi và hỗ trợ doanh nghiệp sáng tạo dựa trên di sản, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp trong các lĩnh vực thiết kế, thời trang, thủ công mỹ nghệ, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa. Cần có cơ chế ưu đãi thuế, tín dụng, quỹ hỗ trợ sáng tạo và hợp tác công – tư để hình thành những sản phẩm có giá trị gia tăng cao.
Cùng với đó, cần phát triển các mô hình kinh tế di sản và hệ sinh thái sáng tạo, thông qua xây dựng các cụm công nghiệp văn hóa, không gian sáng tạo, trung tâm thiết kế, kết nối nghệ nhân, nhà nghiên cứu, nghệ sĩ, doanh nghiệp và các nền tảng công nghệ. Đặc biệt, cần khuyến khích các địa phương phát triển sản phẩm công nghiệp văn hóa mang bản sắc riêng, gắn với xây dựng thương hiệu và thị trường.
Ngoài ra, cần đổi mới cơ chế phân phối lợi ích và tái đầu tư cho bảo tồn. Cần bảo đảm cộng đồng nắm giữ di sản được tham gia, hưởng lợi công bằng từ các hoạt động khai thác; đồng thời dành một phần nguồn thu để bảo tồn di sản, hỗ trợ nghệ nhân và trao truyền tri thức truyền thống.
Cuối cùng, phải xây dựng hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và văn hóa của việc khai thác di sản, tránh chạy theo tăng trưởng doanh thu mà làm mai một bản sắc.
Có thể nói, di sản chỉ thực sự trở thành động lực phát triển công nghiệp văn hóa khi được đặt trong một hệ sinh thái sáng tạo, có thể chế phù hợp, có thị trường và bảo đảm hài hòa giữa bảo tồn, khai thác và phát triển bền vững.
Thiết lập cơ chế quản trị để bảo tồn và phát triển hỗ trợ, thúc đẩy lẫn nhau
Khai thác di sản để phát triển kinh tế luôn đặt ra yêu cầu hài hòa giữa bảo tồn giá trị văn hóa, lợi ích thương mại và quyền lợi của cộng đồng chủ thể. Di sản có thể tạo ra giá trị kinh tế, nhưng không thể đánh đổi tính xác thực, bản sắc văn hóa và quyền lợi cộng đồng để lấy lợi ích thương mại trước mắt.
Theo GS.TS Từ Thị Loan, vấn đề cốt lõi không phải là lựa chọn giữa bảo tồn hay phát triển, mà là thiết lập cơ chế quản trị để bảo tồn và phát triển hỗ trợ, thúc đẩy lẫn nhau. Bà nhấn mạnh một số cơ chế, cụ thể.
Một là, thực hiện quản trị di sản dựa vào cộng đồng, bảo đảm người dân, đặc biệt là các nghệ nhân và cộng đồng chủ thể, được tham gia thực chất vào quá trình ra quyết định, tổ chức khai thác và giám sát hoạt động phát huy di sản. Cộng đồng phải được coi là chủ thể sáng tạo, nắm giữ và trao truyền di sản, chứ không chỉ là đối tượng thụ hưởng hay người cung cấp dịch vụ.
Hai là, thiết lập cơ chế phân chia lợi ích công bằng, minh bạch giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng. Cần có những thỏa thuận cụ thể về quyền sử dụng tri thức truyền thống, hình ảnh, biểu tượng và các yếu tố văn hóa; đồng thời quy định tỉ lệ hợp lý nguồn thu được tái đầu tư cho bảo tồn, hỗ trợ nghệ nhân và duy trì sinh kế địa phương.
Ba là, xây dựng cơ chế kiểm soát tác động của thương mại hóa đối với di sản, thông qua đánh giá sức chịu tải, tác động văn hóa, xã hội và môi trường; xác định giới hạn khai thác đối với những di sản nhạy cảm, không gian thiêng và các thực hành văn hóa có nguy cơ bị biến dạng.
Bốn là, tăng cường giám sát độc lập và trách nhiệm giải trình, với sự tham gia của các nhà khoa học, tổ chức xã hội và cộng đồng địa phương; đồng thời xây dựng bộ tiêu chí đánh giá tính bền vững của hoạt động khai thác di sản.
Đặc biệt, cần quán triệt nguyên tắc "cộng đồng là trung tâm, bảo tồn là nền tảng, sáng tạo là động lực và phát triển bền vững là mục tiêu". Chỉ khi lợi ích kinh tế gắn với trách nhiệm bảo tồn và quyền lợi cộng đồng được bảo đảm, di sản mới thực sự trở thành nguồn lực phát triển lâu dài.
Minh Thư