Bà A đang sử dụng thửa đất số 2 có diện tích 400 m², trong đó có nhà ở và công trình phục vụ đời sống. Đất được sử dụng ổn định từ sau ngày 15/10/1993, trước ngày 1/7/2004, không có giấy tờ về quyền sử dụng đất, không tranh chấp, không vi phạm pháp luật đất đai, không thuộc trường hợp giao đất không đúng thẩm quyền.
Bà A đề nghị cấp Giấy chứng nhận lần đầu đối với thửa đất số 2, trong đó đề nghị công nhận 300 m² đất ở và 100 m² đất trồng cây lâu năm. Theo quy định của địa phương đang áp dụng tại thời điểm nộp hồ sơ, hạn mức giao đất ở tại khu vực này là 300 m².
Trước đó, năm 2007, bà A đã được cấp Giấy chứng nhận đối với thửa đất số 1, trong đó có 200 m² đất ở.
Ông Lê Siên hỏi, khi giải quyết cấp Giấy chứng nhận lần đầu cho thửa đất số 2, diện tích đất ở có được xác định riêng theo hạn mức giao đất ở của thửa đất này theo khoản 3 và khoản 7 Điều 138 Luật Đất đai năm 2024 hay không? Có phải cộng 200 m² đất ở của thửa đất số 1 đã được cấp Giấy chứng nhận năm 2007 với 300 m² đề nghị công nhận tại thửa đất số 2 để xác định diện tích trong hạn mức và vượt hạn mức hay không?
Trường hợp phải cộng dồn diện tích đất ở của hai thửa, đề nghị cơ quan có thẩm quyền chỉ rõ điều, khoản và văn bản pháp luật quy định việc cộng dồn.
Trường hợp không cộng dồn, toàn bộ 300 m² đất ở đề nghị công nhận tại thửa đất số 2 có được xác định là diện tích trong hạn mức giao đất ở hay không? Nghĩa vụ tài chính đối với diện tích đất ở được công nhận trong trường hợp này được xác định theo quy định nào?
Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời vấn đề này như sau:
Tại khoản 1 Điều 135 Luật Đất đai quy định:
"1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được cấp theo từng thửa đất cho người có quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất có nhu cầu và đủ điều kiện theo quy định của Luật này. Trường hợp người sử dụng đất đang sử dụng nhiều thửa đất nông nghiệp tại cùng 01 xã, phường, thị trấn đặc khu mà có yêu cầu thì được cấp 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất chung cho các thửa đất đó".
Tại Điều 138 Luật Đất đai quy định: "Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 137 của Luật này, không thuộc trường hợp quy định tại Điều 139 và Điều 140 của Luật này".
Căn cứ các quy định nêu trên, thửa đất số 2 mà bà A đang sử dụng nếu thuộc trường hợp cấp Giấy chứng nhận theo Điều 138 Luật Đất đai thì việc cấp Giấy chứng nhận, xác định hạn mức đất ở được thực hiện đối với thửa đất số 2; không có quy định phải cộng dồn diện tích đất ở của hai thửa đất số 1 và số 2.
Về việc "toàn bộ 300 m² đất ở đề nghị công nhận tại thửa đất số 2 có được xác định là diện tích trong hạn mức giao đất ở hay không?": Nội dung này liên quan đến quy định về xác định hạn mức công nhận đất ở do UBND tỉnh quy định theo khoản 5 Điều 141 Luật Đất đai. Do đó, đề nghị ông liên hệ với UBND cấp xã nơi có đất để được hướng dẫn.
Về nội dung "Nghĩa vụ tài chính đối với diện tích đất ở được công nhận trong trường hợp này được xác định theo quy định nào?": Nội dung này đề nghị ông liên hệ với cơ quan quản lý nhà nước về tài chính ở Trung ương hoặc địa phương để làm rõ.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường thông tin đến ông được biết và nghiên cứu thực hiện.
Chinhphu.vn