Đây là bước nghiên cứu, chuẩn bị đề án, chưa phải quyết định thành lập khu kinh tế đặc biệt hay sáp nhập các xã.
Theo đó, văn bản nêu rõ, mô hình phát triển của khu kinh tế đặc biệt được định hướng có năng lực cạnh tranh quốc tế, kết hợp kinh tế biển, cảng biển, công nghiệp - năng lượng, logistics, thương mại xuyên biên giới, hàng không, đô thị và đổi mới sáng tạo; gắn với định hướng “Vươn Đông - Tỏa Tây”.
Một trong những trọng tâm của kế hoạch là nghiên cứu tổ chức lại các đơn vị hành chính trong khu kinh tế thành một đơn vị hành chính cấp xã hoặc đặc khu. Đây được xác định là một trong những nhiệm vụ cốt lõi để hoàn thiện điều kiện đề xuất công nhận Khu kinh tế Đông Nam thành khu kinh tế đặc biệt.
Tỉnh nghiên cứu mở rộng Khu kinh tế Đông Nam hiện có, đồng thời đề nghị công nhận là khu kinh tế đặc biệt. Khu kinh tế Đông Nam hiện rộng 237,92km², gồm 6 xã Mỹ Thủy, Vĩnh Định, Triệu Cơ, Nam Cửa Việt, Cửa Việt và Gio Linh, nằm về phía đông nam tỉnh Quảng Trị, có tổng dân số thường trú đạt trên 79.000 người.
Đến năm 2030, khu kinh tế dự kiến mở rộng thành 686,23km², gồm 600,89km² đất liền và 85,34km² mặt biển. Phạm vi toàn bộ Xã Bến Hải, Gio Linh, Cửa Việt, Nam Cửa Việt, Mỹ Thủy, Hải Lăng, Diên Sanh và một phần các xã: Triệu Cơ, Vĩnh Định. Hiện nay, Quy hoạch chung KKT Đông Nam đã được Bộ Xây dựng thẩm định, đang trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Kế hoạch được chia thành 3 giai đoạn, thực hiện từ nay đến quý 3/2028.
Trong đó, giai đoạn 1 triển khai trong tháng 11/2026, tập trung đánh giá sơ bộ, báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Thủ tướng về chủ trương nghiên cứu.
Giai đoạn 2, từ quý 4/2026 đến 2/2027, tập trung hoàn thiện thể chế, đáp ứng các tiêu chí công nhận; đề xuất cập nhật vị thế Quảng Trị trong quy hoạch tổng thể quốc gia, bảo đảm tỉnh được xác định là cực tăng trưởng, vùng động lực và trung tâm kinh tế của vùng. Đồng thời, xây dựng đề án tổ chức lại các đơn vị hành chính trong phạm vi khu kinh tế mở rộng.
Giai đoạn 3, đến quý 3/2028, sẽ xây dựng, hoàn thiện hồ sơ và thực hiện các quy trình, thủ tục công nhận khu kinh tế đặc biệt.
Quảng Trị hiện đang có tình hình kinh tế ra sao?
Quảng Trị đang đứng trước cơ hội phát triển mới sau hợp nhất, với không gian kinh tế trải rộng từ biên giới phía Tây đến vùng ven biển phía Đông. Vị trí giao thương, hệ thống hạ tầng, tiềm năng năng lượng và tài nguyên du lịch tạo nền tảng để tỉnh từng bước trở thành một cực tăng trưởng của miền Trung.
Trong 9 tháng năm 2026, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) ước tăng 8,42%, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,58%, điều này cho thấy kinh tế biển tiếp tục có những chuyển biến đáng chú ý, nhất là trên các lĩnh vực thủy sản, cảng biển, logistics, công nghiệp ven biển và du lịch. Nổi bật là hoạt động khai thác, nuôi trồng thủy sản với sản lượng thủy sản quý III/2026 đạt 43.312,9 tấn, tăng 3% so với cùng kỳ.
Một trong những điểm nhấn của kinh tế biển Quảng Trị trong năm 2026 là sự phát triển mạnh của hệ thống hạ tầng cảng biển và kết nối logistics. Cụ thể, cảng tổng hợp quốc tế Hòn La đã chính thức vận hành giai đoạn 1 từ tháng 4/2026, có khả năng tiếp nhận tàu trọng tải đến 70.000 tấn. Cầu cảng số 2 được đưa vào khai thác tạm và dự kiến vận hành chính thức trong tháng 11/2026.
Hệ thống giao thông kết nối theo hai trục chính: Bắc – Nam gồm quốc lộ 1, cao tốc Bắc – Nam, đường sắt Bắc – Nam, tuyến đường sắt tốc độ cao dự kiến và đường bộ ven biển; Đông – Tây gồm quốc lộ 9 và quốc lộ 15D.
Về định hướng dài hạn, Quy hoạch tỉnh Quảng Trị thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050 đặt mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, từng bước khẳng định vai trò là cực tăng trưởng quan trọng trên Hành lang kinh tế Đông – Tây và khu vực miền Trung. Đến năm 2050, tỉnh hướng tới nền kinh tế có cơ cấu chủ yếu là công nghiệp – dịch vụ, trở thành một trong những trung tâm năng lượng, logistics và du lịch đặc sắc của cả nước.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, tỉnh định hướng tổ chức không gian phát triển theo 3 hành lang kinh tế, 7 cực tăng trưởng và 2 phân vùng. Trong đó, hành lang Bắc – Nam gắn với cao tốc, quốc lộ 1, đường ven biển và đường sắt quốc gia; hành lang phía Tây tập trung kinh tế rừng, năng lượng tái tạo; hành lang Đông – Tây kết nối các cửa khẩu với cảng biển, thúc đẩy thương mại và logistics xuyên biên giới. Cấu trúc này tạo cơ sở liên kết các vùng sản xuất, đô thị và đầu mối giao thông, đồng thời phân bổ nguồn lực đầu tư theo lợi thế từng khu vực.