Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) công bố một số nội dung đáng chú ý tại dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán.
Dự thảo Luật gồm 03 điều: Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán; Điều 2. Hiệu lực thi hành; Điều 3. Điều khoản chuyển tiếp.
So với Luật Chứng khoán số 54/2019/QH14 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 56/2024/QH15), dự thảo Luật sửa đổi 44 Điều, bổ sung 01 Điều, giữ nguyên 91 Điều.
Theo đó, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện một số quy định để đáp ứng yêu cầu ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, thúc đẩy chuyển đổi số; thực hiện tinh gọn bộ máy và nâng cao hiệu quả vận hành thị trường giao dịch chứng khoán; bảo đảm thống nhất, đồng bộ với quy định pháp luật hiện hành; tiệm cận với các tiêu chuẩn quốc tế trong hoạt động chứng khoán và TTCK; nâng cao năng lực thị trường, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng.
Sửa đổi, bổ sung quy định về chứng chỉ hành nghề chứng khoán
Cụ thể, dự thảo sửa đổi, bổ sung theo hướng cho phép công ty chứng khoán, chi nhánh công ty chứng khoán nước ngoài tại Việt Nam giao kết hợp đồng với khách hàng bằng văn bản hoặc hình thức phù hợp theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử khi cung cấp dịch vụ cho khách hàng (khoản 4 Điều 89).
Tiếp theo, dự thảo sửa đổi, bổ sung quy định liên quan đến tiêu chuẩn người đại diện theo pháp luật của tổ chức kinh doanh chứng khoán tại Luật Chứng khoán theo hướng công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán phải có tối thiểu 01 người đại diện theo pháp luật đáp ứng các tiêu chuẩn về tình trạng pháp lý, kinh nghiệm và chứng chỉ hành nghề tương ứng áp dụng đối với Tổng giám đốc (Giám đốc).
Đáng chú ý, dự thảo bổ sung thuật ngữ "tổ chức sử dụng người được cấp chứng chỉ hành nghề chứng khoán" tại Điều 4 Luật Chứng khoán để xác định rõ các tổ chức thuộc phạm vi áp dụng, bảo đảm phù hợp với thực tiễn và làm cơ sở quản lý, giám sát người hành nghề chứng khoán, người được cấp chứng chỉ hành nghề chứng khoán.
Đồng thời, dự thảo sửa đổi, bổ sung quy định về chứng chỉ hành nghề chứng khoán (Điều 97), quy định về trách nhiệm của người hành nghề chứng khoán (Điều 98) như sau:
Về điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề chứng khoán: Sửa đổi, bổ sung theo hướng người đề nghị cấp chứng chỉ phải đạt yêu cầu trong kỳ thi sát hạch phù hợp với loại chứng chỉ hành nghề chứng khoán đề nghị cấp;
Về việc thu hồi chứng chỉ hành nghề: Bỏ quy định người bị thu hồi chứng chỉ do vi phạm quy định về các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động về chứng khoán và TTCK tại Điều 12 và vi phạm quy định về hành vi người hành nghề chứng khoán không được thực hiện tại khoản 2 Điều 98 Luật Chứng khoán thì không được đề nghị cấp lại chứng chỉ như quy định hiện hành, do người hành nghề vi phạm các quy định này sẽ có các chế tài tương ứng (hình sự, hành chính), trong đó có các biện pháp: cấm hành nghề có thời hạn hoặc vĩnh viễn, cấm thực hiện công việc hoặc hoạt động nhất định có thời hạn hoặc vĩnh viễn; đồng thời bổ sung trường hợp thu hồi chứng chỉ khi người được cấp chứng chỉ không thực hiện nghĩa vụ tham gia tập huấn hằng năm trong 03 năm liên tục hoặc không làm việc tại tổ chức sử dụng người được cấp chứng chỉ hành nghề chứng khoán trong 03 năm liên tục (thời gian không làm việc không tính thời gian giữ chức danh thành viên HĐQT, thành viên HĐTV, Chủ tịch công ty, thành viên Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên của tổ chức sử dụng người được cấp chứng chỉ hành nghề chứng khoán);
Về tập huấn hằng năm đối với người được cấp chứng chỉ hành nghề chứng khoán: Trường hợp không thực hiện nghĩa vụ tham gia tập huấn hằng năm trong 03 năm liên tục thì bị thu hồi chứng chỉ hành nghề chứng khoán;
Về trách nhiệm của người hành nghề chứng khoán và người được cấp chứng chỉ hành nghề chứng khoán: Người hành nghề chứng khoán chỉ được hành nghề với tư cách đại diện cho tổ chức nơi mình làm việc, không được mở, quản lý tài khoản giao dịch chứng khoán tại công ty chứng khoán khác, trừ trường hợp công ty chứng khoán nơi mình đang làm việc không có nghiệp vụ môi giới chứng khoán. Người được cấp chứng chỉ hành nghề chứng khoán không được đồng thời làm việc cho từ 02 tổ chức sử dụng người được cấp chứng chỉ hành nghề chứng khoán trở lên và phải tham gia tập huấn hằng năm.
Về quỹ đầu tư chứng khoán, dự thảo sửa đổi, bổ sung theo hướng cho phép quỹ hoán đổi danh mục tiếp nhận, hoán đổi tài sản khác theo quy định của Chính phủ lấy chứng chỉ quỹ. Bên cạnh đó, dự thảo sửa đổi, bổ sung theo hướng Đại hội nhà đầu tư được ủy quyền cho Ban đại diện quỹ quyết định thông qua các báo cáo về tình hình tài chính, tài sản và hoạt động hằng năm của quỹ đầu tư chứng khoán; thông qua việc lựa chọn tổ chức kiểm toán được chấp thuận để kiểm toán báo cáo tài chính hằng năm của quỹ đầu tư chứng khoán, tổ chức định giá độc lập (nếu có) quy định tại điểm g khoản 2 Điều này và việc ủy quyền này phải được quy định tại Điều lệ quỹ.
Về hạn chế đối với quỹ đại chúng (điểm b khoản 1 Điều 110), dự thảo sửa đổi, bổ sung theo hướng ngoại trừ việc tuân thủ hạn mức đối với chứng khoán cơ cấu thuộc chỉ số tham chiếu của quỹ hoán đổi danh mục do quỹ hoán đổi danh mục đó đầu tư. Về ngân hàng giám sát của quỹ đại chúng (khoản 1 Điều 116), dự thảo sửa đổi bổ sung đối tượng được cung cấp dịch vụ ngân hàng giám sát là chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.
Cắt giảm, đơn giản hóa nhiều thủ tục hành chính
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán cũng cắt giảm một số nội dung, đơn giản hóa thủ tục hành chính, đơn giản hóa điều kiện đầu tư, kinh doanh, bảo đảm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.
Về hoạt động lưu ký chứng khoán, bãi bỏ 02 điều kiện đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bao gồm: Đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo quy định của pháp luật về ngân hàng, hoạt động kinh doanh có lãi trong năm gần nhất; Có địa điểm, trang bị, thiết bị phục vụ hoạt động lưu ký, thanh toán giao dịch chứng khoán.
Dự thảo cắt giảm, đơn giản hóa hồ sơ là: Bản thuyết minh về cơ sở vật chất, kỹ thuật bảo đảm thực hiện hoạt động lưu ký, thanh toán giao dịch chứng khoán tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính; Tài liệu chứng minh đáp ứng điều kiện về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo quy định của pháp luật về ngân hàng; Báo cáo tài chính năm gần nhất đã được kiểm toán.
Về ngân hàng thanh toán, dự thảo sửa đổi, bổ sung quy định trực tiếp yêu cầu ngân hàng thanh toán là ngân hàng thương mại được thành lập và hoạt động tại Việt Nam và loại bỏ quy định trùng lặp về yêu cầu này tại điều kiện được lựa chọn làm ngân hàng thanh toán; các điều kiện còn lại về năng lực tài chính, an toàn hoạt động, cơ sở vật chất, kỹ thuật tiếp tục được duy trì.
Về điều kiện cấp Giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức kinh doanh chứng khoán (Điều 74), dự thảo bãi bỏ một số điều kiện gồm: (i) Cổ đông, thành viên góp vốn là cá nhân không thuộc các trường hợp không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật Doanh nghiệp; (ii) Cổ đông, thành viên góp vốn là tổ chức thìphải có tư cách pháp nhân và đang hoạt động hợp pháp; Báo cáo tài chính năm gần nhất phải được kiểm toán với ý kiến chấp nhận toàn phần; (iii) Tổng giám đốc (Giám đốc) không bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK trong thời hạn 06 tháng gần nhất tính đến thời điểm nộp hồ sơ; (iv) Có dự thảo Điều lệ không trái với quy định của Luật Chứng khoán và Luật Doanh nghiệp.
Đơn giản hóa điều kiện: Đối với trường hợp có Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) phụ trách nghiệp vụ, sửa đổi theo hướng bỏ điều kiện không bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK trong thời hạn 06 tháng gần nhất tính đến thời điểm nộp hồ sơ.
Về điều kiện cấp Giấy phép thành lập và hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán (Điều 75), dự thảo cắt giảm, đơn giản hóa các điều kiện thành lập, hoạt động của công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán tương tự như cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện của công ty chứng khoán tại Điều 74 của Luật.
Về điều kiện cấp Giấy phép thành lập và hoạt động kinh doanh chứng khoán của chi nhánh công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam (Điều 76), dự thảo bỏ quy định thời gian hoạt động còn lại (nếu có) tối thiểu là 05 năm; sửa quy định "Được cơ quan quản lý, giám sát trong lĩnh vực chứng khoán ở nước nguyên xứ cấp phép hoạt động quản lý quỹ đại chúng và được chấp thuận thành lập chi nhánh tại Việt Nam" theo hướng bỏ cụm từ "đại chúng".
Về văn phòng đại diện công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam (Điều 78), dự thảo bỏ quy định thời gian hoạt động còn lại (nếu có) tối thiểu là 01 năm; đồng thời quy định điều kiện cơ quan cấp phép của nước nguyên xứ và UBCKNN đã ký kết thỏa thuận hợp tác song phương hoặc đa phương về trao đổi thông tin, hợp tác quản lý, thanh tra, giám sát hoạt động về chứng khoán và thị trường chứng khoán hoặc công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ nước ngoài đang quản lý các quỹ đang đầu tư tại Việt Nam.