Siết chặt hậu kiểm, làm rõ trách nhiệm quản lý an toàn thực phẩm

Thảo luận về dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), các đại biểu Quốc hội đề nghị tăng cường hậu kiểm theo mức độ rủi ro, hoàn thiện cơ chế quản lý dữ liệu, quảng cáo, thu hồi thực phẩm và phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan liên quan.

Published by
Báo điện tử Chính phủ
Published
Length
1,789 words · 8 min
Siết chặt hậu kiểm, làm rõ trách nhiệm quản lý an toàn thực phẩm

Chiều 24/10, Quốc hội thảo luận tại tổ về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa; dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi); dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ.

Tham dự phiên thảo luận tại Tổ 3 gồm các đại biểu Quốc hội (ĐBQH) thuộc Đoàn ĐBQH TP. Hải Phòng, tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh Lạng Sơn. Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng; Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc dự phiên thảo luận.

Tăng hậu kiểm, quản lý theo mức độ rủi ro

Góp ý vào dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), đại biểu Phạm Thu Xanh (TP. Hải Phòng) thống nhất với sự cần thiết sửa đổi Luật, đồng thời đề nghị tiếp tục hoàn thiện các quy định nhằm khắc phục những bất cập trong thực tiễn quản lý.

Đại biểu chỉ ra 6 "lỗ hổng" trong quản lý, gồm: Cơ chế tự công bố có thể bị lợi dụng; hậu kiểm chưa đủ sức phát hiện sớm; trách nhiệm giữa các bộ, ngành còn phân tán; quảng cáo sai lệch trên nền tảng số khó kiểm soát; nguy cơ mất an toàn tại bếp ăn tập thể; năng lực kiểm nghiệm, hạ tầng dữ liệu và nhân lực ở cơ sở chưa đồng đều.

Đại biểu đề nghị sửa Điều 57 theo hướng quy định rõ kế hoạch lấy mẫu định kỳ theo nhóm nguy cơ; hậu kiểm đột xuất khi có cảnh báo hoặc dấu hiệu vi phạm; thời hạn xử lý và công khai kết quả khi có kết luận. Cơ sở tuân thủ tốt có thể được giảm tần suất kiểm tra, trong khi sản phẩm nguy cơ cao, tái phạm hoặc có cảnh báo phải được kiểm tra tăng cường, không đồng nghĩa với miễn hậu kiểm.

Từ vụ gần 600 loại (573 nhãn) sữa bột giả do Công ty Rance Pharma và Hacofood Group sản xuất, tiêu thụ công khai trong khoảng 4 năm, đại biểu cho rằng cơ chế tự công bố theo Nghị định số 15/2018/NĐ-CP đã bị lợi dụng, trong khi hậu kiểm không theo kịp.

Với Điều 58, cần quy định chế tài tương xứng với mức độ nguy hại, lợi bất chính, tình trạng tái phạm và hậu quả; bảo đảm thu hồi, cảnh báo người tiêu dùng và công khai vi phạm khi đủ căn cứ pháp luật.

Về phân loại sản phẩm, đại biểu đề nghị rà soát Điều 46 và Phụ lục số 1, thống nhất tiêu chí dựa trên mức độ nguy hại, đối tượng sử dụng, khả năng truy xuất và lịch sử vi phạm. Cần duy trì đăng ký có kiểm soát đối với thực phẩm dinh dưỡng y học, sản phẩm cho trẻ nhỏ và nhóm có khuyến cáo sức khỏe; đơn giản hóa thủ tục với nhóm nguy cơ thấp thông qua cơ chế điện tử, một cửa và thời hạn giải quyết rõ ràng. Đại biểu cũng đề nghị có cơ chế để bệnh viện sử dụng thực phẩm dinh dưỡng y học đã được công bố trong điều trị nội trú theo chỉ định và giám sát y tế, tránh thủ tục trùng lặp.

Đối với dữ liệu và quảng cáo thực phẩm, các Điều 14, 15 và 19 cần bảo đảm cơ sở dữ liệu liên thông, cập nhật, có khả năng sử dụng khi xảy ra sự cố; thống nhất mã định danh sản phẩm, cơ sở và lô hàng, xác định rõ trách nhiệm, thời hạn cập nhật. Với nhóm nguy cơ cao, cần có lộ trình bắt buộc truy xuất nguồn gốc điện tử từ nhà sản xuất, nhà nhập khẩu đến đơn vị phân phối và điểm bán.

Từ vụ quảng cáo kẹo rau củ Kera năm 2025, đại biểu đề nghị sửa đồng bộ Điều 13 và Điều 61, quy định việc kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ, lưu vết người bán và nội dung quảng cáo; kịp thời tạm ẩn hoặc gỡ bỏ khi có căn cứ, bảo toàn dữ liệu phục vụ xử lý. Trách nhiệm của người quảng cáo, người có ảnh hưởng và nền tảng thương mại điện tử cần được quy định cụ thể, nhất là với sản phẩm có khuyến cáo sức khỏe và sản phẩm dành cho nhóm dễ tổn thương.

Đại biểu đề nghị sửa Điều 57 theo hướng quy định rõ kế hoạch lấy mẫu định kỳ theo nhóm nguy cơ, hậu kiểm đột xuất khi có cảnh báo hoặc dấu hiệu vi phạm, thời hạn xử lý và công khai kết quả khi có kết luận. Cơ sở tuân thủ tốt có thể được giảm tần suất kiểm tra, nhưng không được miễn hậu kiểm; sản phẩm nguy cơ cao, tái phạm hoặc có cảnh báo phải được tăng cường kiểm tra.

Đối với Điều 58, đại biểu đề nghị quy định chế tài tương xứng với mức độ nguy hại, lợi bất chính, tình trạng tái phạm và hậu quả; bảo đảm thu hồi, cảnh báo người tiêu dùng, công khai vi phạm khi đủ căn cứ pháp luật.

Về phân loại sản phẩm, đại biểu đề nghị rà soát Điều 46 và Phụ lục số 1, thống nhất tiêu chí theo mức độ nguy hại, đối tượng sử dụng, khả năng truy xuất và lịch sử vi phạm. Cần duy trì đăng ký có kiểm soát đối với thực phẩm dinh dưỡng y học, sản phẩm cho trẻ nhỏ và nhóm có khuyến cáo sức khỏe; đơn giản hóa thủ tục với nhóm nguy cơ thấp bằng cơ chế điện tử, một cửa, quy định rõ thời hạn giải quyết.

Đại biểu cũng đề nghị có cơ chế để bệnh viện sử dụng thực phẩm dinh dưỡng y học đã được công bố trong điều trị nội trú theo chỉ định và giám sát y tế, tránh thủ tục trùng lặp.

Đối với dữ liệu và quảng cáo thực phẩm, đại biểu đề nghị hoàn thiện các Điều 14, 15 và 19 nhằm bảo đảm cơ sở dữ liệu liên thông, được cập nhật và có thể sử dụng khi xảy ra sự cố; thống nhất mã định danh sản phẩm, cơ sở, lô hàng cùng trách nhiệm và thời hạn cập nhật. Với nhóm nguy cơ cao, cần có lộ trình bắt buộc truy xuất nguồn gốc điện tử từ nhà sản xuất, nhà nhập khẩu đến đơn vị phân phối, điểm bán.

Dẫn vụ quảng cáo kẹo rau củ Kera năm 2025, đại biểu đề nghị sửa đồng bộ Điều 13 và Điều 61, quy định việc kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ, lưu vết người bán và nội dung quảng cáo; kịp thời tạm ẩn, gỡ bỏ khi có căn cứ và bảo toàn dữ liệu phục vụ xử lý. Cần quy định cụ thể trách nhiệm của người quảng cáo, người có ảnh hưởng và nền tảng thương mại điện tử, nhất là đối với sản phẩm có khuyến cáo sức khỏe, sản phẩm dành cho nhóm dễ tổn thương.

Về trách nhiệm quản lý, đại biểu ủng hộ quy định tại Điều 63 xác định Bộ Y tế là đầu mối thống nhất quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm. Theo đại biểu, Bộ cần có quyền điều phối thực chất trong xây dựng kế hoạch quốc gia theo nguy cơ, chia sẻ dữ liệu, cảnh báo, truy xuất, thu hồi và xử lý sự cố liên ngành; báo cáo Chính phủ khi việc phối hợp không được thực hiện hoặc còn bất đồng.

Đại biểu đề nghị xác định rõ cơ quan chủ trì đối với từng nhóm sản phẩm, loại hình cơ sở, tình huống sự cố, gắn trách nhiệm với người đứng đầu. Điều 71 cần phân định trách nhiệm của cấp tỉnh, cấp xã, đồng thời bảo đảm nhân lực, kinh phí, năng lực thực thi, tránh né tránh, đùn đẩy trách nhiệm.

Bên cạnh đó, cần tăng năng lực kiểm nghiệm theo vùng, ưu tiên địa bàn xa trung tâm và tuyến cơ sở; quy định tiêu chí về năng lực, tính độc lập, kiểm soát xung đột lợi ích và trách nhiệm pháp lý của tổ chức thử nghiệm.

Làm rõ phạm vi và quy trình thu hồi thực phẩm không an toàn

Đại biểu Nguyễn Hoàng Tùng (tỉnh Lạng Sơn) đề nghị làm rõ quy định về ngừng sản xuất, kinh doanh thực phẩm không bảo đảm an toàn. Khi có căn cứ xác định thực phẩm không an toàn, cơ sở phải ngừng ngay việc sản xuất, kinh doanh thực phẩm liên quan, kịp thời báo cáo và triển khai biện pháp ngăn ngừa, khắc phục hậu quả. Nếu giữ mốc 24 giờ, cần xác định rõ phạm vi áp dụng, phân biệt thời điểm triển khai với thời điểm hoàn thành khắc phục, không làm thay đổi nghĩa vụ báo cáo theo quy định.

Về miễn công bố sản phẩm, đại biểu đề nghị chỉnh lý thống nhất điểm c khoản 2, khoản 8 Điều 46 và Phụ lục số 1; rà soát phạm vi miễn đối với thực phẩm sau chế biến trong kinh doanh thức ăn đường phố, sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ và dịch vụ ăn uống.

Các trường hợp miễn cần được thể hiện đầy đủ trong phụ lục, có dẫn chiếu rõ ràng và làm rõ mối quan hệ với nhóm sản phẩm bắt buộc đăng ký tại khoản 1 Phụ lục số 1. Đại biểu lưu ý cần phân biệt thủ tục đối với từng sản phẩm với trường hợp cơ sở không thuộc diện cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm; không lấy tên gọi cơ sở nhỏ lẻ hoặc địa điểm bán hàng để thay thế việc xác định nghĩa vụ đối với sản phẩm.

Về thu hồi thực phẩm, đại biểu đề nghị rà soát sự tương ứng giữa khoản 1 và khoản 3 Điều 56; làm rõ phạm vi thu hồi đối với các trường hợp vi phạm ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm, sai lệch chất lượng và lỗi ghi nhãn. Nếu giữ căn cứ thu hồi tại điểm h khoản 1, cần quy định trực tiếp hoặc dẫn chiếu phù hợp; đồng thời làm rõ cách xác định sản phẩm vi phạm tại điểm b khoản 3 để nhận diện sản phẩm, lô hàng và phạm vi liên quan.

Theo đại biểu, các quy định phải đủ cụ thể để cơ sở thực hiện, cơ quan quản lý kiểm tra và người dân nhận biết sản phẩm cần ngừng sử dụng, bảo đảm thu hồi đầy đủ nhưng không mở rộng sang sản phẩm không liên quan.

Bích Phương

Siết chặt hậu kiểm, làm rõ trách nhiệm quản lý an toàn thực phẩm- Ảnh 1.
Quang cảnh phiên thảo luận Tổ 3 chiều 24/10 - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc Báo điện tử Chính phủ
Siết chặt hậu kiểm, làm rõ trách nhiệm quản lý an toàn thực phẩm- Ảnh 2.
Đại biểu Phạm Thu Xanh (ĐBQH TP. Hải Phòng) góp ý kiến tại phiên thảo luận tổ - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc Báo điện tử Chính phủ
Siết chặt hậu kiểm, làm rõ trách nhiệm quản lý an toàn thực phẩm- Ảnh 3.
Đại biểu Nguyễn Hoàng Tùng (tỉnh Lạng Sơn) phát biểu - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc Báo điện tử Chính phủ
Đề xuất mở rộng ưu đãi đầu tư đối với các ngành, lĩnh vực có tác động lan tỏa
Đề xuất đấu giá quyền sử dụng khu vực biển
Sửa Luật Sở hữu trí tuệ: Cắt giảm 18 thủ tục hành chính, 5 điều kiện kinh doanh
Khơi thông nguồn lực sáng tạo để phát triển công nghiệp văn hóa

Where this came from

This story was first published by Báo điện tử Chính phủ on 24 Oct 2026. HUE Legacy Ventures did not write it.

Official government news. The publisher asks that reuse credit the Government Information and Communications Department (Báo điện tử Chính phủ), which every story does.

Read it at baochinhphu.vn →