Hơn một thập kỷ trước, quy mô GDP của Việt Nam từng đi sau Thái Lan 7 năm, Singapore 4 năm, khoảng cách này sẽ thay đổi ra sao trong năm nay?

GDP Việt Nam được IMF dự báo đạt hơn 542 tỷ USD năm 2026. So với đầu thập niên 2010, khoảng cách về quy mô kinh tế với nhiều nước Đông Nam Á đã thu hẹp.

Written by
Hoàng Nguyễn
Published by
CafeF
Published
Length
1,084 words · 5 min
Hơn một thập kỷ trước, quy mô GDP của Việt Nam từng đi sau Thái Lan 7 năm, Singapore 4 năm, khoảng cách này sẽ thay đổi ra sao trong năm nay?

Trong giai đoạn 2010–2024, tăng trưởng kinh tế Việt Nam đã chuyển mình rõ rệt theo hướng tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, thúc đẩy công nghiệp hóa và tham gia vào Cách mạng công nghiệp 4.0. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) luôn duy trì tăng trưởng với tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2011–2024 đạt 6,09%/năm, đưa Việt Nam từ một quốc gia thuộc nhóm nước nghèo nhất thế giới trở thành nước có thu nhập trung bình với GDP bình quân đầu người năm 2024 đạt 4.700 USD, gấp 2,8 lần năm 2010 (1.690 USD).

Năm 2010, năm đầu tiên của giai đoạn, quy mô GDP của Việt Nam đạt 2.739,8 nghìn tỷ đồng, tương đương 147,2 tỷ USD; đến năm 2019, GDP đạt 7.707,2 nghìn tỷ đồng, tương đương 334,3 tỷ USD. Trong hai năm 2020 và 2021, mặc dù tốc độ tăng trưởng thấp do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 nhưng nhìn chung quy mô nền kinh tế tiếp tục được mở rộng, lần lượt đạt 8.044,4 nghìn tỷ đồng và 8.487,5 nghìn tỷ đồng, tương đương 346,6 tỷ USD và 366,5 tỷ USD.

Năm 2022, kinh tế Việt Nam đã phục hồi mạnh mẽ, quy mô kinh tế mở rộng đáng kể, đạt 9.621,4 nghìn tỷ đồng, tương đương 413,3 tỷ USD. Đến năm 2024 đạt 11.511,9 nghìn tỷ đồng, tương đương 476,3 tỷ USD, gấp 3,2 lần năm 2010.

Nếu so với các nước trong khu vực Đông Nam Á, vào năm 2010, GDP Indonesia gấp 5,13 lần quy mô GDP của Việt Nam; Thái Lan gấp 2,32 lần; Malaysia gấp 1,73 lần; Singapore gấp 1,63 lần; Philippines gấp 1,42 lần.

Ở thời điểm đó, nếu xét trên góc độ quy mô GDP của toàn bộ nền kinh tế, Việt Nam đi sau Thái Lan 7 năm, Indonesia 10 năm, Singapore 4 năm. Cụ thể, GDP của Việt Nam năm 2010 gần tương đương với GDP của Indonesia năm 2000 (165 tỷ USD); Thái Lan năm 2003 (152,3 tỷ USD); Singapore năm 2006 (148,6 tỷ USD).

Đến năm 2026, dự báo IMF cho thấy một tương quan khác. Indonesia vẫn dẫn đầu Đông Nam Á với GDP khoảng 1.480 tỷ USD, tiếp theo là Singapore với 667,89 tỷ USD và Thái Lan với 599,12 tỷ USD. Malaysia được dự báo đạt 547,10 tỷ USD, còn Philippines đạt 501,69 tỷ USD. Với mức 542,13 tỷ USD, Việt Nam đứng thứ năm khu vực, ngay sau Malaysia. 

Tính từ các mức dự báo trên, GDP Thái Lan chỉ còn gấp khoảng 1,11 lần Việt Nam, Singapore gấp 1,23 lần và Indonesia gấp 2,73 lần. Như vậy, xét bằng tỷ lệ, khoảng cách với các nền kinh tế từng vượt xa Việt Nam năm 2010 đã giảm rõ rệt. 

Nếu xét trên góc độ quy mô GDP của toàn bộ nền kinh tế và dự báo của IMF, quy mô kinh tế của Việt Nam dự kiến đi sau Thái Lan 7 năm, Indonesia tới 18 năm, Singapore 2 năm. Cụ thể, GDP của Việt Nam năm 2026 gần tương đương với GDP của Indonesia năm 2008 (558,29 tỷ USD); Thái Lan năm 2019 (543,98 tỷ USD); Singapore năm 2024 (572 tỷ USD).

Cần lưu ý, “số năm đi sau” ở đây chỉ là cách minh họa quy mô GDP danh nghĩa bằng USD. Chỉ tiêu này không tăng liên tục qua từng năm và có thể thay đổi theo tỷ giá, giá cả hoặc điều chỉnh thống kê. Vì vậy, những khoảng cách trên không thể hiểu là số năm Việt Nam cần để bắt kịp các nước về năng suất, thu nhập hay trình độ phát triển.

Việt Nam đặt mục tiêu thuộc nhóm 30 nền kinh tế có quy mô GDP hàng đầu thế giới đến năm 2030

 Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2026-2030 nêu rõ, mục tiêu tổng quát là phát triển nhanh, bền vững đất nước; phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân đạt từ 10%/năm trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân.

Thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030, trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thuộc nhóm 30 nền kinh tế có quy mô GDP hàng đầu thế giới.

Tạo lập thể chế phát triển hiện đại, bền vững; mạng lưới kết cấu hạ tầng đồng bộ; nâng cao tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chất lượng nguồn nhân lực; phát triển mạnh mẽ, toàn diện văn hoá và con người Việt Nam; bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; xã hội dân chủ, công bằng, kỷ cương, an toàn; quốc phòng, an ninh được bảo đảm; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên.

Nghị quyết cũng đặt ra các chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế - xã hội gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân cả nước đạt từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 là 8.500 USD/năm; Tuổi thọ trung bình 75,5; giảm tỉ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều) từ 1 - 1,5 điểm%/năm; bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân; tỉ lệ che phủ rừng đạt 42%...

Riêng năm 2027, Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027 vừa được Quốc hội thông qua mới đây nhấn mạnh, đây là năm tăng tốc, bứt phá, tạo đà, tạo thế, tạo lực để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

Trong đó, tốc độ tăng GDP năm 2027 phấn đấu đạt từ 10% trở lên. Trong đó, khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 12,2%; dịch vụ tăng 9,8%; nông, lâm nghiệp và thủy sản phấn đấu tăng 3,8%, hướng tới đạt 4%.

GDP bình quân đầu người dự kiến đạt khoảng 6.100 USD; tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) khoảng 4,5%.

Quốc hội đặt mục tiêu tốc độ tăng chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) đạt 11,5-12,5%; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP đạt 25,4%; tốc độ tăng năng suất lao động đạt 8,6%.

Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội dự kiến đạt 36-38% GDP; tỷ trọng kinh tế số trong GDP khoảng 23,5%.

Về thương mại, nghị quyết xác định mục tiêu tăng trưởng giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 15%, nhập khẩu 12%; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 14%.

Doanh số thương mại điện tử được đặt mục tiêu tăng 15-17%; số lượt khách quốc tế đến Việt Nam đạt 28-29 triệu lượt.

Hơn một thập kỷ trước, quy mô GDP của Việt Nam từng đi sau Thái Lan 7 năm, Singapore 4 năm, khoảng cách này sẽ thay đổi ra sao trong năm nay? - Ảnh 1.
Quy mô GDP của Việt Nam so với các nước trong nhóm ASEAN-6. Nguồn: IMF CafeF

Where this came from

This story was reported by Hoàng Nguyễn and first published by CafeF on 8 Nov 2026. HUE Legacy Ventures did not write it.

Reuse is permitted on condition the source is named ("Theo CafeF"), per the publisher's RSS terms. Every story credits CafeF and links back. Removal on request.

Read it at cafef.vn →